Ngày Ánh Tuyết Từ về nhà, hành trang vô cùng gọn nhẹ. Tạ Hoàng hậu bảo: "Muội hiện tại dù gì cũng là Hoàng hậu, tuy chưa hành lễ sắc phong, song chuyện này cũng đã là ván đóng thuyền. Từ nay về sau muội là quân, họ là thần, muội nên dùng xe liễn và nghi trượng trong cung mới phải."
Ánh Tuyết Từ không nghe theo, nàng chỉ mang theo Huệ Cô, ngồi một chiếc xe ngựa nhỏ rồi đi thẳng về nhà.
Nàng không báo trước một lời nào nên khi đột ngột trở về, trong nhà chỉ có hai vị tẩu tẩu ở đó. Các huynh trưởng còn chưa bãi triều, các thúc bá từ lâu đã phân chia gia sản, khiến cửa nhà ngày một lạnh lẽo. Các tẩu tẩu hành lễ với nàng xong, Ánh Tuyết Từ liền hỏi: "Cha đâu rồi ạ?"
Đại tẩu hơi do dự một lát mới thấp giọng đáp: "Cha bệnh rồi, hiện tại đang nghỉ ngơi ở thượng phòng. Cô nương muốn gặp ông, để ta sai người đi thưa một tiếng."
Ánh Tuyết Từ lại bảo không cần. Trước tiên nàng trở về viện nhỏ của mình. Viện nhỏ đã bị khóa lại, áng chừng đã vài năm không có ai mở ra, trên ổ khóa tích một tầng bụi xám mờ mịt. Ngước đầu nhìn sang, hoa lăng tiêu trồng trên đầu tường đều đã chết khô, mẹ từng nói loài hoa đó rất dễ sống.
Nàng lặng im nhìn một lát, quay người thấy một bà vú đi tới. Bà vú nói: "Lão gia mời cô nương đến thượng phòng."
Nàng đi đến thượng phòng, Ánh Đình Kính đang ngồi trong thư phòng đợi nàng. Trên cửa treo chiếc rèm trúc lốm đốm, hắt chếch vào một chút ánh chiều tà.
Ngày nhỏ nàng cảm thấy thứ ánh sáng này rất đáng sợ. Nàng đứng bên ngoài chiếc rèm trúc này, không dưới một lần nghe thấy cha nói: "Nữ nhi này dung mạo yêu dị, nên tiễn vào cửa Phật."
Lần cuối cùng nghe thấy, nàng sợ hãi vô cùng. Nàng nhận thức được cha chẳng hề nói lời giả dối, ông thực sự muốn tống nàng vào am làm ni cô. Nàng quay người muốn chạy trốn đến chỗ mẹ, lại không cẩn thận chạm phải chiếc rèm trúc lốm đốm.
Chiếc rèm trúc kia cứ thế đung đưa, tưởng chừng như không có điểm dừng.
Nàng thò tay ra bắt lấy, hy vọng nó lập tức dừng lại, nhưng những sợi tua rua bên dưới vẫn đang dao động. Những vệt sáng lọt vào trong cũng theo đó mà đung đưa dữ dội, rọi lên nền đất vỡ vụn loang lổ. Cha nhất định đã phát hiện ra rồi.
Nàng suýt nữa khóc ra tiếng, cắn chặt răng, trong mảnh đất đầy những chiếc bóng hỗn loạn kia, nàng nhìn thấy ánh mắt lạnh lùng của cha xuyên qua rèm trúc nhìn về phía mình.
Từ đó về sau, nàng không bao giờ đến đây nữa. Bởi vì đêm hôm đó, cha vì việc nàng tự ý xông vào thư phòng của ông đã cãi nhau một trận lớn với mẫu thân, chỉ trích người dạy dỗ nữ nhi không biết giữ lễ nghĩa, thiếu lòng kính sợ đối với người cha—— Thực ra không phải như vậy, ngày ấy nàng vừa vặn làm xong một chiếc túi đựng kính. Cha bị cận thị, đây là điều mẫu thân từng kể lại với nàng.
Mẫu thân nói cha lúc trẻ thường xuyên thắp đèn đọc sách không quản ngày đêm, cho nên mới mắc tật mắt mờ, cứ nhìn đồ vật nơi xa là mờ mịt. Ông sợ suốt ngày đeo trên mặt sẽ bị người ta cười chê nên giấu kín không cho ai biết, lặng lẽ đi cắt một cặp kính, giấu trong ống tay áo, lúc cần thiết mới lấy ra nhìn một cái.
Chiếc kính đó làm bằng thủy tinh, cực kỳ dễ vỡ. Thấy cha cứ để trong ống tay áo rất bất tiện, lại dễ bị trầy xước, nàng lặng lẽ may một chiếc túi nhỏ, bên trong lót bông mềm, miệng thắt dây rút giống như bao đựng quạt. Chiếc túi có thể đeo bên hông, vừa tiện lấy ra vừa dễ cất vào.
Nàng đến thư phòng chỉ muốn đặt chiếc túi lên bàn. Nàng hiểu cha vốn sĩ diện, nếu đưa tận tay, ông nhất định sẽ mắng nàng không lo việc chính sự, suốt ngày bày vẽ những thứ vô dụng, rồi thà chịu bất tiện chứ quyết không nhận.
Nàng từng rất mong chờ được thấy nụ cười của cha.
Thế nhưng, hành động ấy rốt cuộc lại rước về cho mẫu thân một trận lôi đình.
Chiếc túi cuối cùng không thể gửi đi. Ngày hôm đó, nàng vừa khóc vừa ném nó xuống đất, còn hằn học giẫm thêm hai cái. Nàng vốn là người hay ghim thù, lúc giẫm lên chiếc túi, trong đầu nàng chỉ có một ý nghĩ: Nếu trên đời này không có cha thì tốt biết mấy. Làm cha thì có quyền tùy ý chà đạp lòng thành của con cái sao? Nếu trên đời không có cha, chẳng phải mọi người đều sẽ hạnh phúc hơn?
Suốt một thời gian dài về sau, ý nghĩ ấy luôn khiến nàng sợ hãi và cắn rứt. Mãi cho đến ngày bị ép gả vào phủ Lễ vương, khi đứng trân trân ngoài cửa Ánh phủ, nàng chợt nhận ra sâu trong lòng mình vẫn luôn nguyền rủa ông chết đi.
Dứt khỏi dòng suy nghĩ, nàng bắt gặp ánh mắt dò xét của Ánh Đình Kính. Thấy nàng nhìn lại, ông ta quay mặt đi. Cha con gặp mặt mà còn lạnh nhạt hơn cả người dưng nước lã.
"Ngươi còn vác mặt về đây làm gì?"
Ánh Tuyết Từ khẽ mỉm cười, điềm nhiên đáp: "Ta về thăm cha. Nghe nói cha trở bệnh, phận làm con lấy chữ hiếu làm đầu, nữ nhi muốn ở lại hầu hạ thuốc thang cho cha."
Ánh Đình Kính lạnh giọng: "Không dám làm phiền đến Hoàng hậu."
Ánh Tuyết Từ khẽ nhíu mày.
Nàng đứng ngay giữa cửa, bóng hình thanh mảnh che khuất ánh chiều tà lọt qua rèm trúc. Nàng bình tĩnh hỏi: "Cha đã biết nữ nhi là Hoàng hậu, vậy tại sao còn chưa chịu quỳ lạy?"
Một nghiên mực lập tức nện thẳng về phía nàng. Ánh Tuyết Từ kịp nghiêng người né tránh, nhưng vết mực vẫn bắn tung tóe khắp người. Nàng cúi đầu, lặng lẽ lau đi vệt mực đen trên gò má.
"—— Ngươi rốt cuộc còn biết liêm sỉ là gì không? Thanh danh trăm năm của Ánh gia bỗng chốc hủy hoại sạch sành sanh trong tay một mình ngươi! Liệt tổ liệt tông ở trên cao, bảo ta ngày sau còn mặt mũi nào đi gặp họ!"
Ánh Đình Kính giận run người. Ngoài cửa vang lên vài tiếng bước chân dồn dập, nhưng rồi lại ngập ngừng dừng lại ngoài mành trúc. Một lát sau, có người đánh bạo vén rèm bước vào, khẽ gọi: "Cha." Rồi quay sang nhìn Ánh Tuyết Từ, e dè một hồi mới lên tiếng: "Nương nương."
Người bước vào chính là các vị huynh trưởng của Ánh Tuyết Từ. Vừa rồi nàng đột ngột trở về, đại tẩu đoán chuyện không ổn nên đã phái người đi mời mấy anh em họ về gấp. Ánh Đại lang gượng cười một tiếng, lên tiếng làm dịu bầu không khí: "Phụ thân bệnh tình chưa khỏi, khó tránh khỏi tinh thần mệt mỏi, đầu óc mê muội, lời nói ra có chút khó nghe, muội muội ngàn vạn lần đừng để trong lòng."
Ánh Đình Kính nổi trận lôi đình, giận dữ mắng nhiếc: "Nơi này đến lượt ngươi lên tiếng sao? Cút ra ngoài cho ta! Còn có ngươi nữa——"
Ông chỉ tay vào Ánh Tuyết Từ, bờ môi run rẩy: "Đi theo Dương Tu Thận rời khỏi đây thì có gì không tốt? Cái loại người như ngươi, có thể giữ được mạng sống thì nên thắp hương bái Phật, tự biết ơn biết nhục mới phải, thế mà còn mặt dày mày dạn, tự coi mình là Hoàng hậu! Trời có đức hiếu sinh, ta đã định coi như không nuôi nấng đứa con gái này, mở một mắt nhắm một mắt để hắn đưa ngươi đi. Rốt cuộc như vậy thì có gì không tốt cơ chứ?! Hắn là học trò ta yêu quý nhất, xưa nay giữ mình trong sạch, tiền đồ vô lượng, vậy mà vì ngươi, tất cả vì ngươi..."
Giọng ông ta dần đổi tông, nghe kỹ còn mang theo tiếng nghẹn ngào. Ông ta phẫn nộ, gằn giọng nhiếc móc: "Cút đi."
Cuối cùng, ông ta dứt khoát buông một câu: "Ta không có đứa con gái như ngươi!"
Nghe thấy câu nói đó, tảng đá đè nặng trong lòng Ánh Tuyết Từ bỗng chốc tan biến. Nàng chợt nhớ lại hồi còn nhỏ, có một lần nàng bị phát sốt, trong cơn mơ màng đã huyễn hoặc rằng chính mình sẽ không cẩn thận mà bệnh chết. Khi đó cha chắc chắn sẽ hối hận khôn nguôi, giống như lúc đại huynh sinh bệnh vậy. Ông đã ôm chặt lấy đại huynh, sụt sùi rơi lệ mà khóc rằng con của ta phải sống thọ, con của ta phải sống thọ. Cho dù sau khi đại huynh khỏi bệnh, cha coi như chưa từng nói câu đó và đối xử với huynh ấy càng thêm nghiêm khắc hơn.
Nàng nghĩ đến mức vụng trộm mỉm cười. Mẫu thân nhìn thấy, còn tưởng nàng sốt đến mức ngốc luôn rồi.
Sau đó cha đến thật. Thế nhưng ông chỉ đứng ở ngoài rèm hỏi một câu "Hết sốt chưa", rồi lập tức rời đi.
Thật buồn lòng biết bao.
Thật bất công làm sao.
Nhưng trên thế gian này, đâu chỉ có một mình nàng phải buồn lòng.
Thế là nàng đem những lời dồn nén bấy lâu trong lòng, rành rọt từng câu từng chữ nói thẳng ra ngoài miệng, không còn cảm thấy bất kỳ sự cắn rứt hay sợ hãi nào nữa.
"Nữ nhi oán hận phụ thân, cầu mong cha sống không được yên ổn."
"Duy nguyện phụ thân từ nay về sau tuổi thọ không dài, phúc mỏng lòng cô. Người đời không kính không sợ, người thân không yêu không thương. Ngàn năm vạn năm, một thân trơ trọi, hình bóng xót xa, thần hồn cô quạnh, nhìn nhau hai bận chỉ thấy chán ghét."
Nàng vừa nói vừa nở nụ cười ngọt ngào, từ tận đáy lòng khẽ thốt lên: "Cha, nữ nhi đi đây."
Năm mười bảy tuổi ấy, có người thiếu niên đến Gia Hưng cầu học, bái danh sĩ họ Uông tại bản địa làm thầy. Tiên sinh có một ái nữ, dung mạo tuyệt trần, hơn nữa tính khí lại hoạt bát, không chịu gò bó.
Đám học trò lén lút bàn tán, đều bảo nhan sắc của nàng quá mức rực rỡ, gần như yêu mị, tựa như yêu tinh nơi núi rừng hóa sinh mà thành, song ai nấy cũng đều vụng trộm ngắm nhìn.
Hắn có tật cận thị, nhìn vật ở xa không rõ. Vì sợ tiên sinh không chịu nhận mình làm học trò nên hắn giấu kín không nhắc tới. Mỗi khi người thiếu nữ kia đi qua, hắn đều coi như không thấy. Lâu dần, nàng đâm ra muốn trêu chọc hắn. Uông cô nương ghé sát lại gần, cười râm ran hỏi: "Chàng ngốc kia, cớ gì cứ luôn ngoảnh mặt không nhìn ta?"
Hắn bấy giờ mới nhìn rõ khuôn mặt nàng, song lại nhíu chặt lông mày, dứt khoát ngoảnh đầu đi nơi khác.
Nàng Uông cô nương từ đó quấn chặt lấy hắn. Hắn cảm thấy đau đầu, hận không thể từ chối ngoài ngàn dặm, nhưng có cố gắng thế nào cũng vô dụng. Mẫu thân của nàng Uông cô nương nghe nói chẳng phải người Trung Nguyên mà là nữ tử tộc Dao. Nữ tử tộc Dao xưa nay đa tình, nghe nói tính tình bừng cháy như ngọn lửa thiêu...
Trong lòng hắn tràn đầy sự coi thường khinh miệt, đối đãi với nàng càng thêm lạnh nhạt, nhưng nàng lại càng thêm phần nhiệt tình.
Hắn dần dần chống đỡ không nổi, ngày càng lún sâu.
Bạn đồng môn hỏi, hắn lại xì mũi coi thường: "Nữ tử này dung mạo yêu dị, e là điềm họa." Nàng chẳng hề biết chuyện, cứ cười hì hì trèo qua bức tường, dắt hắn đến trước tượng Bồ Tát chơi trò nhà chòi, bái đường thành thân.
Hắn không hề khước từ, ngay trước tượng Bồ Tát đã hôn lên má nàng.
Sau đó, hắn lên kinh dự thi khoa cử rồi không từ mà biệt. Hắn cứ ngỡ cả đời này mình sẽ không bao giờ trở lại nơi đó nữa. Nàng viết rất nhiều thư nhưng hắn không hề hồi âm, một phong cũng không... Vì sợ bị phụ thân phát hiện, hắn đã ném tất cả vào đống lửa.
Mấy năm sau quay trở lại, hắn đã là tân quan nhậm chức, danh tiếng lẫy lừng không ai sánh bằng. Hắn trở về để bái tạ ơn thầy, lại nhìn thấy nàng vội vội vàng vàng chạy đến, thở hồng hộc, vành mắt đỏ hoe.
Cõi lòng hắn thoáng chốc lay động, cảm thấy nàng thật tội nghiệp đáng thương, đáng thương đến mức tim hắn cũng ngầm nhói đau.
Hắn phải tốn rất nhiều công sức mới dỗ dành được nàng, rồi dạy nàng cách giấu giếm cha mẹ để lén lút hẹn hò với hắn. Ngày chuyện bại lộ làm chấn động cả nhà, thầy và sư mẫu nhốt nàng trong phòng. Nghe nói nàng cố chấp muốn gả cho hắn nhưng lão sư quyết không bằng lòng.
Lão sư nhận xét hắn là kẻ ngoài ấm trong lạnh, tình giả ý thưa, chẳng phải đấng lương nhân, chung quy rồi sẽ phụ bạc.
Nàng không tin... Người thê tử đáng thương của hắn khi ấy đã lựa chọn tin tưởng hắn. Nàng cạy mở ổ khóa, trèo qua bức tường, giống hệt như ngày xưa trèo tường cùng hắn đến trước tượng Bồ Tát chơi trò bái đường thành thân, dứt khoát không chút quay đầu mà nhảy thẳng vào lòng hắn.
Họ trở lại kinh thành, bái lạy thiên địa, kết thành phu thê.
Lúc ấy hắn cảm thấy họ chính là đôi tình lữ xứng đôi vừa lứa nhất trên đời này.
Cha mẹ hắn khai minh, anh em nhân hậu, không một ai để nàng phải chịu uất ức. Nàng xinh đẹp như thế, lương thiện như thế, tốt đẹp đến thế, họ nhất định có thể bạc đầu giai lão. Biến cố xảy đến vào lúc nào ấy nhỉ?
Chắc là khoảng năm thứ sáu sau khi thành thân.
Hắn mới thăng lên chức quan tòng tứ phẩm, việc xã giao đưa đẩy dần nhiều lên, thời gian trở về phủ cũng càng lúc càng muộn. Ban đầu nàng luôn chong đèn đợi hắn, sau đó hắn bảo nàng không cần đợi nữa, nàng bèn thực sự không đợi nữa thật.
Thi thoảng nửa đêm canh ba trở về, thấy nàng cuộn tròn ở phía bên trong giường thành một khối nhỏ nhắn, hắn đứng bên sập nhìn hồi lâu, cuối cùng vẫn không đưa tay ra chạm vào nàng.
Có một ngày, đồng liêu bày tiệc, giữa tiệc có kẻ công khai bông đùa: "Nghe nói mẫu thân của tôn phu nhân là người từ phương Nam tới. Năm đó Thái Tổ chinh phạt Dao tộc, tự tay bắt về không ít, chẳng phải đều đưa vào cung làm nô tỳ rồi sao? Sao vẫn có người lưu lạc bên ngoài thế nhỉ?"
Có vài kẻ cười lên với ngụ ý bất thiện, bàn tay đang nâng ly rượu của hắn khẽ khựng lại.
Đêm đó hắn uống nhiều hơn một chút. Cứ ngỡ nàng đã ngủ từ lâu, nào ngờ khi về phủ lại thấy nàng đang dạy thị nữ nhận biết thảo dược. Nàng bảo đó là phương thuốc gia truyền từ bên nhà mẫu thân, có thể chữa chứng bệnh về mắt cho hắn.
Giọng điệu nàng dịu dàng mềm mại, vương chút khẩu âm của người Dao. Nhạc phụ và nhạc mẫu tình cảm vô cùng thắm thiết, vì chiều chuộng thê tử nên nhạc phụ đã đặc biệt học tiếng Dao để nói chuyện khi ở trong nhà.
Trước kia hắn rất thích thanh âm này, nhưng hôm nay chẳng hiểu sao lại cảm thấy có chút chói tai.
Lại một năm nữa trôi qua, hắn bị Phúc Ninh Công chúa nhắm vào nên bị chèn ép, đánh giá xếp hạng quan lại bị hạ thấp. Phụ thân hắn một đời thanh chính liêm minh, quyết không chịu vì chuyện này mà cúi đầu trước Công chúa, và hắn cũng vậy.
Có người ẩn ý nhắc nhở hắn, nếu muốn tiến quan thêm một bước thì chẳng ngại gì mà không dựa dẫm vào quan hệ thân thích. Vị thiên kim của Lại Bộ Thượng thư xưa nay vốn luôn ân cần với hắn, mà Lại Bộ chính là nơi chưởng quản việc xét duyệt công trạng vào năm sau.
Hắn không nhận lời, song cũng không lập tức khước từ. Thê tử chẳng rõ vì sao lại biết chuyện, nàng không khóc cũng không nháo, chỉ ngơ ngác ngồi suốt một đêm. Ngày hôm sau, nàng vẫn hầu hạ cha mẹ chồng và chăm sóc hắn như thường lệ. Thế nhưng nàng bắt đầu đổ bệnh, trận bệnh không dài không ngắn khiến tính tình nàng trở nên im lặng và khép kín hẳn. Nàng bắt đầu học nói tiếng kinh thành, học rất nhanh và chuẩn xác, chỉ là nàng không còn cười với hắn nữa, cũng chẳng còn nảy ra những ý nghĩ kỳ quặc rồi quấn lấy hắn làm cái này cái kia nữa.
Đứa con trai thứ ba của họ ra đời.
Vào ngày đứa trẻ chào đời, đồng liêu lại một lần nữa nhắc lại chuyện cũ nhưng đều bị hắn gạt đi. Hắn vội vã trở về phòng thăm nàng thì thấy nàng đang đọc thư của nhạc mẫu. Thấy hắn vào, nàng cuống quýt giấu bức thư ra sau lưng như một đứa trẻ làm sai chuyện.
Cõi lòng hắn bỗng chốc lạnh ngắt, kéo theo nỗi hoảng sợ vô cớ và lòng hối hận mơ hồ. Hắn sải bước tiến lại gần, nắm chặt lấy tay nàng. Thê tử vô cùng hoảng hốt, khoảnh khắc ấy gương mặt hắn nhất định là hung dữ lắm, bởi vì hắn nhìn thấy bóng hình mình phản chiếu trong đôi mắt nàng chẳng khác nào quỷ dữ mặt xanh nanh dài... "Giấu cái gì?" Hắn lạnh giọng chất vấn: "Nàng hối hận rồi sao?"
Nàng khóc, nói rằng không có, nàng lặp lại rất nhiều lần, thế nhưng hắn không tin. Đó cũng là lần đầu tiên hắn không lau nước mắt cho nàng.
Lúc mang thai Dung Dung, nàng đề nghị hòa ly với hắn.
Dung Dung là đứa con út.
Nhỏ hơn Tam lang bảy tuổi.
Suốt bảy năm này, mối quan hệ giữa hắn và nàng càng thêm lạnh nhạt. Tính tình hắn vốn bạc bẽo, hành sự đầy mưu mô giả tạo. Bên ngoài hắn tỏ ra cương trực, nhưng sau lưng lại lộng quyền kết phái. Con đường quan lộ của hắn thăng tiến như diều gặp gió. Khi phụ thân tuổi già từ quan về hưu, hắn lập tức thế chỗ ông, trở thành người đứng đầu giới thanh lưu.
Phụ thân nhìn không vừa mắt cách hành sự của hắn, cho rằng hắn bạc tình quả nghĩa, chung quy sẽ phải tự nếm trái đắng. Ông bảo hắn hãy nghĩ đến lời nhạc phụ từng nhận xét năm xưa, rằng hắn ngoài ấm trong lạnh, tình giả ý thưa, chung quy rồi sẽ phụ bạc.
Lại là những lời như thế.
Hắn chẳng mấy bận tâm, trong lòng tràn ngập sự khinh miệt. Khi đang lúc xuân phong đắc ý, hắn muốn cùng thê tử hàn gắn tình cảm xưa cũ. Song đêm đó nàng lại lạnh nhạt đến cực điểm, chỉ biết rơi nước mắt. Hắn đành phải qua loa kết thúc, nhưng cũng nhờ vậy mà có Dung Dung.
Thực ra hắn rất mong chờ đứa trẻ này. Đứa bé nếu có thể chào đời, biết đâu sẽ là bước ngoặt để họ nối lại tình xưa. Biết tin thê tử mang thai, hắn vui mừng khôn xiết. Hắn đến phòng bầu bạn với nàng, gạt bỏ hết công vụ để chăm sóc nàng chu đáo hết mực. Thái độ nàng dù có lạnh lùng, hắn cũng chẳng bận lòng, cho đến khi nàng chủ động đề nghị hòa ly với hắn.
"Vì sao chứ?" Hắn khẽ hỏi.
"Ta đối xử với nàng không tốt sao?" Hắn trăm đường không sao hiểu nổi.
Thê tử không cho hắn câu trả lời, chỉ bảo: "Ta đã thưa chuyện với cha mẹ chồng, cũng đã báo cho phụ thân của ta. Không quá vài ngày nữa, ông sẽ lên kinh thành đón ta về nhà."
Hắn trầm mặc nhìn nàng. Hồi lâu sau, hắn mới nói: "Như vậy cũng tốt. Chỉ là nhắc nhở phu nhân một câu, huynh trưởng của nàng hiện vẫn đang tại chức, tiền đồ về sau còn mong hãy cẩn thận suy nghĩ."
Nàng lại khóc, mắng hắn là đồ khốn nạn.
Hắn ngoài sự phẫn nộ ra thì lại cảm thấy đắc ý, biết nàng quyết không thể chạy thoát được nữa, bèn sập cửa bỏ đi.
Đến lúc mang thai tám tháng, nàng trèo tường bỏ trốn.
Người vú nuôi chuẩn bị cho đứa trẻ sắp sinh cùng người nữ tử tên Huệ Cô đã giúp đỡ nàng. Cha mẹ, anh em và chị em dâu của nàng đều biết chuyện, bằng lòng để nàng rời đi nên mới mắt nhắm mắt mở, chỉ có hắn là bị giấu kín trong vòng mù tịt. Song cuối cùng, hắn vẫn phát hiện ra.
Nàng loạng choạng từ trên đầu tường nhảy xuống, có một người nam tử tộc Dao đứng dưới tường đón lấy nàng. Cảnh tượng này mới nực cười và giống năm xưa làm sao. Hắn bị cơn giận dữ che mờ lý trí, điên cuồng cướp đoạt nàng trở về. Nàng năm lần bảy lượt giải thích đó là biểu đệ bên nhà mẫu thân, song hắn căn bản không tin. Không chỉ có thế, hắn thậm chí còn hoài nghi cốt nhục trong bụng nàng liệu có phải là huyết mạch của mình hay không.
Giữa họ suốt bảy năm qua chẳng phải không chung phòng, cớ gì duy chỉ có lần này nàng lại mang thai? Hắn không tin, ép hỏi nàng gắt gao. Nàng hất tay hắn ra rồi đi tìm cha mẹ chồng. Giữa đêm canh ba, nàng dập đầu cầu xin cha mẹ chồng làm chủ, xin được hưu thê.
Phụ thân nhiếc móc, mẫu thân khuyên lơn, anh em cũng chỉ trích sự quá quắt của hắn... nhưng hắn vẫn khăng khăng một mực, kề dao vào cổ mình để ép nàng phải ở lại.
Lưỡi dao thực sự đã cứa rách da thịt, thế nên nàng cũng thực sự chấp nhận ở lại.
Nhưng kể từ đó về sau, họ chỉ còn cái danh nghĩa phu thê chứ chẳng còn thực chất vợ chồng. Nàng dọn đến một gian viện nhỏ thanh vắng ở góc phủ, đóng cửa tự sống qua ngày. Hắn oán hận sự bất trung, phản bội và lạnh nhạt của nàng, bèn trút hết cơn phẫn nộ sang cả những đứa con thơ.
Ba đứa con trai đều sợ hắn nhưng lúc nào cũng quấn quýt bên gối mẫu thân. Hắn càng thêm phẫn nộ, bèn bắt tất cả chúng cấm túc ở ngoại viện, không cho phép bước vào nội viện lấy một bước, cũng không cho chúng được lưu luyến mẹ mình.
Tam lang là nhỏ tuổi nhất, khóc lóc thảm thiết khi bị kéo rời khỏi vòng tay mẫu thân.
Sau đó, đứa trẻ kia chào đời, nàng đặt tên cho nó là Tuyết Từ, tên thuở nhỏ là Dung Dung. Nàng chẳng thèm báo cho hắn, cũng không buồn hỏi ý kiến hắn. Hắn tự đặt một cái tên khác, nhưng chẳng một ai thèm bận tâm. Mọi người trong phủ từ trên xuống dưới vẫn cứ gọi đứa trẻ ấy là Tuyết Từ.
Đứa bé sinh ra trắng trẻo đáng yêu, mày mắt như đúc từ một khuôn với nàng. Nữ tử tộc Dao linh tú phi thường, cốt cách thanh mảnh. Có một lần nhân lúc nàng không có nhà, hắn lén đến nhìn đứa trẻ. Nó thực sự rất đáng yêu, chỉ là từ lông mày, đôi mắt đến bờ môi, cánh mũi, sao chẳng thấy đâu một chút dáng vẻ của hắn? Cõi lòng hắn lạnh ngắt, càng thêm khẳng định đứa trẻ này không phải là huyết mạch của mình.
Hắn oán hận thê tử, oán hận cả đứa con gái khó khăn lắm mới có được này. Hắn oán hận đến mức tất cả mọi người đều nhìn ra sự thiên vị và bất công của hắn, để rồi họ lại càng thêm thương xót đứa trẻ. Hắn lắm lúc cứ luôn nghi ngờ, phải chăng chính vì có đứa con này nên nàng mới mãi vương vấn tình nhân cũ, chẳng cách nào cùng hắn hàn gắn tình cảm xưa?
Thế là vào lúc đứa trẻ tròn một tuổi, hắn thưa chuyện với phụ thân, muốn gửi đứa bé vào am chùa, mặc cho nó tự sinh tự diệt.
Phụ thân giáng cho hắn một cái tát, đánh hắn ngã nhào xuống đất.
Lần thứ hai cũng lại như thế.
Lần thứ ba vẫn...
Đứa trẻ dần dần lớn khôn, phụ thân cũng ngày một già yếu. Đến một lần nữa khi hắn nhắc lại chuyện muốn tống đứa trẻ vào cửa Phật, phụ thân không tát hắn nữa, mà ông hộc máu.
Cùng lúc đó, thê tử cũng đổ bệnh.
Đại phu bảo đại khái có liên quan đến việc ở cữ sau sinh không tốt. Hắn bèn lập tức quy chụp tất cả tai họa này là do sự xuất hiện của đứa con gái kia đem lại.
Đứa con thơ chẳng hề biết chuyện, rất hiếm khi được gặp hắn, song mỗi lần nhìn thấy đều cất giọng nhỏ nhẹ non nớt: "Cha bế bế, con nhớ cha."
Hắn ngồi trước giường bệnh của thê tử, cứng đờ người bế đứa con gái vào lòng. Khoảnh khắc ấy, sâu trong lòng hắn từng khao khát biết bao rằng đứa trẻ này chính là cốt nhục của mình, liệu có một tia hy vọng mỏng manh nào như thế chăng...
Trong cơn mộng mị, hắn nghe thấy tiếng thê tử nỉ non lúc bệnh nặng: "Hãy đối xử tốt với con."
Hãy đối xử tốt với nàng.
Hãy đối xử tốt với đứa trẻ này.
Vì vậy, cuối cùng hắn vẫn giữ nàng lại.
Con gái ngoan ngoãn, lặng lẽ tựa vào lồng ngực hắn.
Thê tử không mở nổi mắt, bệnh tình trầm trọng, hắn nhẹ nhàng tựa đầu vào bên gối nàng. Ba người cuộn tròn một chỗ, tiếng thở của con gái khẽ khàng, chẳng bao lâu sau cũng ngủ thiếp đi. Mắt hắn hơi xót xa, không rõ nguyên do, chỉ sợ chứng bệnh về mắt lại tái phát nên bèn nhắm mắt lại.
Một bàn tay khẽ vỗ về thân hình nhỏ bé của đứa trẻ trong lòng, trao đi chút ấm áp đầu tiên trong đời này, và cũng là lần duy nhất.
Ánh Đại lang tiễn nàng ra cửa, còn chưa kịp bước qua ngưỡng cửa đã thấy một hàng nội thị hoàng gia đang đi tới.
Người đi đầu chính là Lương Thanh Đệ, thái giám tổng quản thân cận của Hoàng đế. Sắc mặt Ánh Đại lang hơi đổi, từ xa đã hướng về phía hắn hành lễ.
Lương Thanh Đệ mặc mãng bào, đội mũ ô sa, một tay bưng chiếu thư, một tay nhấc vạt áo bước xuống kiệu xe, cúi mình chào Ánh Tuyết Từ: "Chúng ta tới đón nương nương."
Người nhà Ánh gia thấy hắn tay cầm thánh chỉ, biết có chỉ dụ cần tuyên bèn đồng loạt quỳ xuống.
"Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Ánh thị sinh trưởng chốn danh môn, hun đúc đức hạnh thục hiền, tính tình nhu thuận. Nay lập làm Hoàng hậu. Đứng đầu chốn hậu cung, cùng gánh vác việc tông miếu, mẫu nghi thiên hạ, cùng kéo dài phúc trạch của quốc gia. Khâm thử!"
Đây là chuyện vốn đã biết từ trước, mọi người liền tung hô chúc mừng: "Thánh cung vạn phúc, Hoàng hậu thiên tuế."
Nói đoạn, Lương Thanh Đệ lại lấy ra một đạo chiếu thư khác, cười nói: "Hôn kỳ định vào tháng ba mùa xuân năm sau, trong phủ không cần phải vội vã. Điện hạ xuất giá không khởi hành từ quý phủ, Bệ hạ đã có an bài riêng. Nay đại hôn chưa cử hành, trước tiên phong điện hạ làm Vĩnh Quốc Phu nhân, ban cho một tòa phủ đệ, thực ấp ngàn hộ. Thân mẫu của điện hạ là Uông phu nhân, dạy con có phép tắc, nề nếp đoan trang, cùng phong làm Ninh Quốc Phu nhân để ngợi ca đức làm mẹ. Bệ hạ đặc mệnh nô tài đến đón điện hạ chuyển sang phủ mới, phủ đệ cơ nghiệp mới ban này, lẽ nào chủ nhân lại không tự đến xem một chút?"
"Cái này——" Hắn bỗng nhiên khựng lại, ngơ ngác nhìn quanh bốn phía, có vẻ không hiểu: "Ánh đại nhân thế mà không có ở trong phủ sao?"
Ánh Đại lang vội nói: "Gia phụ thân thể khó chịu, đang nằm giường tĩnh dưỡng, e là thực sự không cách nào gượng dậy đón tiếp..."
Vừa nói, hắn vừa khẽ liếc nhìn Ánh Tuyết Từ một cái rồi không nói tiếp nữa.
"Ồ, thì ra là thế."
Lương Thanh Đệ vỗ tay cười nói, "Ta còn tưởng đại nhân trong lòng có chút không vui nên cố ý né tránh không gặp, hóa ra là bản chức nghĩ nhiều rồi. Trước lúc lên đường Bệ hạ có đặc biệt dặn dò, Hoàng hậu lòng lành nhân hậu, nhưng trẫm lại không thể không thay nàng tính toán thêm một bước. Sau lưng nàng là thiên gia, chuyến đi này, nếu nhìn thấy ai miễn cưỡng, hoặc khinh mạn đối xử lạnh nhạt với nàng, ngươi cần phải biết rõ ràng mà về bẩm báo lại."
"Giờ thì ta đã biết lời này nên về bẩm báo thế nào rồi."

