Vẫy tay cho đám tôi tớ lui ra ngoài, Lý phu nhân mới chậm rãi kể lại chuyện cũ hơn hai mươi mấy năm về trước.
– Nhà họ Lý tôi xưa nay hiếm hoi, đến đời tôi đây thì càng không có lấy một mống con trai, coi như đã tuyệt tự rồi. Cha hai đứa nó là sĩ tử từ phương Nam tới, thi trượt, ngã bệnh ngất xỉu trước cửa hàng nhà tôi rồi được tiên phụ cứu giúp. Tiên phụ vốn quý trọng kẻ sĩ, biết sĩ tử này chưa vợ bèn kén làm con rể.
Giọng điệu của Lý phu nhân vẫn bình thản như trước. Hơi nóng từ chén canh dưỡng sinh phả lên, lượn lờ trước mặt bà ta.
– Nào ngờ chúng tôi thành thân chưa được bao lâu thì có một người đàn bà trẻ tìm đến tận nhà. Người này tự xưng họ Triệu, là vợ chưa cưới của ông nhà tôi dưới quê. Khi ấy tôi trẻ người non dạ, tính tình hơi bồng bột, bèn hỏi thẳng nhà tôi xem thực hư thế nào. Nếu đúng là sự thật, tôi sẽ đồng ý ly dị, để nhà tôi đoàn tụ với người kia. Tuy là con nhà buôn nhưng tôi quyết không cướp chồng của kẻ khác. Nhà tôi lại bảo không phải.
Mặc dù mới nghe loáng thoáng đoạn đầu, Chu Kỳ đã đoán được hòm hòm chuyện cũ này rồi. Một sĩ tử tham phú phụ bần, người cũ khăn gói lên kinh tìm người thân, kết hợp với lời Lý phu nhân nói về “oan hồn” thì người cũ này hẳn đã chết rồi. Còn bức hoạ kia đương nhiên là do Cao Tuấn tự tay vẽ, vì tình cũ khó quên hoặc do lương tâm áy náy, hoặc vì cả hai cũng không biết chừng. Ở Trường An, mấy chuyện đàn ông phụ bạc thế này thì thiếu gì…
– Tôi cũng biết những gì thị nói là thật, nhưng tôi cũng đoán được nhà tôi không đời nào chịu nhận. Đã ăn quen cao lương mỹ vị rồi, ai mà chịu quay về sống cảnh cơ hàn đây?
Hai chị em Lý Đại Nương, Lý Nhị Nương đều biến sắc. Phạm Kính thì tỏ vẻ bất đắc dĩ. Chu Kỳ thì gật gật đầu, thầm nghĩ: “Lòng người ấy à…”
– Bởi vì chướng mắt Triệu thị vô tri, tìm đến nhà khiến người ta bực bội, nên tôi đuổi thẳng cổ chứ chẳng khách sáo gì. Lại dặn người hầu trông nhà tôi thật chặt. Khi ấy nhà tôi mới về ở rể, xung quanh toàn người cũ của nhà họ Lý. Vả lại, nhà tôi cũng đã lựa chọn rồi, thiết nghĩ tôi không dặn dò gì thêm thì nhà tôi cũng không dám tự tiện làm gì.
– Sau này, khi nhà tôi về quê thăm thân thích, tôi có nhờ lão bộc hỏi thăm thì biết năm ấy Triệu thị về quê chẳng bao lâu thì ngã bệnh qua đời rồi. Lão bộc có ra mộ của thị xem thử. Nấm mộ ấy đúng là mồ lâu năm, cỏ mọc um tùm, chỉ còn mỗi ụ đất nho nhỏ mà thôi.
Chị em Lý Đại Nương và Phạm Kính đều ngồi lặng thinh tựa như chưa kịp hoàn hồn sau khi nghe câu chuyện xưa vậy.
Chu Kỳ hỏi:
– Phu nhân từng thấy bức tranh đó rồi sao? Trong tranh có phải là Triệu thị đó không?
– Thấy rồi. Tôi nghe Đại Nương với Nhị Nương rủ rỉ cái gì mà “mỹ nhân”. Khi ấy Đại Nương sắp cập kê, sợ xảy ra chuyện không hay, tôi bèn hỏi đám hầu gái của hai đứa nó, thế mới hay là có chuyện về bức tranh ấy. Tôi đến xem thử, thấy người trong tranh có hàng mày mảnh mai, đúng là Triệu thị đó.
– Vậy đối với chuyện này, ông Cao nói sao?
– Tôi không hỏi. Lúc đó tôi nghĩ, đằng nào thị cũng đã mục ruỗng cả rồi, tội tình gì vì một người chết mà ôm bực vào người? Nhà tôi muốn thờ thì cứ thờ thôi, muốn nhớ thì cứ nhớ thôi, dẫu sao cũng còn hơn là suốt ngày lui tới chốn lầu xanh hay rước mấy ả yêu tinh về nhà. – Lý phu nhân não nề thở dài. – Nào ngờ Triệu thị đi rồi thì Nguyễn thị lại tới.
Chu Kỳ hỏi:
– Dáng vẻ hai người họ giống nhau lắm à?
Lý phu nhân hơi nhíu mày, ngẫm nghĩ giây lát:
– Năm ấy chỉ gặp một lần, lại chỉ một chốc lát, thực tình cũng không nhớ rõ lắm, chỉ lơ mơ cảm thấy cũng khá giống nhau.
Lý phu nhân nghiến răng nói:
– Tôi không cho nhà tôi cưới Nguyễn thị vào nhà. Bọn nhỏ chỉ cho tôi là chuyện bé xé ra to. Thứ người như vậy làm sao tôi cho phép ả bước chân vào nhà chứ? Nhưng bây giờ đâu còn là ngày xưa, nhà họ Lý nào còn là nhà họ Lý nữa, rõ ràng đã thành họ Cao rồi… Giờ nhà tôi bệnh rồi, tôi có chết cũng phải đuổi ả yêu tinh phá nhà này đi để bọn nhỏ an ổn! Mặc kệ ả là thứ gì, có là oan hồn đầu thai hay ác quỷ nhập vào thì sao chứ? Cùng lắm thì tôi với ả xuống điện Diêm La thưa kiện chứ gì!
Lý phu nhân nghiến răng nói, dứt lời thì bắt đầu ho sù sụ.
Lý Nhị Nương bật khóc, Lý Đại Nương cũng buồn bã bước tới vỗ lưng giúp mẹ.
Chu Kỳ an ủi:
– Có phải là oan hồn đầu thai tìm cách báo thù đời trước hay không còn chưa chắc, phu nhân xin chớ nổi giận. Việc này là do ông Cao mà ra, ông ấy lại đột nhiên phát bệnh nặng, chúng ta nên đến xem thử ông Cao thế nào trước đã.
Lý phu nhân không khỏe nên bảo con gái và con rể dẫn Chu Kỳ tới thăm Cao Tuấn.
Hai chị em họ Lý và Phạm Kính dẫn Chu Kỳ đến buồng ngủ trong gian nhà chính ở sân sau.
Chu Kỳ quan sát kỹ ông Cao này, trông lão trẻ hơn vợ khá nhiều, mặt mày sáng sủa, đường nét cân đối, thời trẻ hẳn dung mạo cũng ưa nhìn lắm. Sắc mặt lão tái nhợt, bờ môi hơi tím bầm – giống bệnh trạng của người mắc bệnh phổi, bệnh tim, hoặc những người bị hôn mê lâu ngày. Chu Kỳ đưa tay dò thử thấy hơi thở của lão nhẹ nhàng và chậm rãi, coi cũng vững vàng. Nàng kéo mí mắt của lão lên xem rồi đặt ngón tay trên cổ tay lão. Chu Kỳ không rành y thuật, chỉ cảm thấy làn da của lão lành lạnh, mạch đập khá yếu.
Lý Đại Nương sốt sắng hỏi:
– Chu chân nhân, nghiêm phụ thế nào ạ?
– Nghe Nhị Nương Tử nói lệnh nghiêm đường hôn mê như vậy đã ba ngày nay rồi ư?
Lý Đại Nương gật đầu.
Chu Kỳ gật gù, cầm phất trần phủi một vòng trên người Cao Tuấn, nhíu mày nói:
– Trên người ông Cao không thấy dấu vết tà thuật gì… Trước khi ông Cao hôn mê như vậy, có điềm báo hay triệu chứng gì không? Đêm trước đó ông ấy đã làm gì?
Lý Đại Nương lắc đầu.
Phạm Kính nói:
– Chúng tôi không thể túc trực ngày đêm, chuyện này phải hỏi đám hầu gái mới biết được.
Một hầu gái mặc váy hồng hầu cận Lý phu nhân hơi nhún gối, mồm miệng lanh lợi nói:
– Ông đến thăm bà vào khoảng giữa giờ Tuất, nói là từ thư phòng sang. Trước đó ông có nói chuyện một lát với Ngũ Lang. Dạ dày bà không khoẻ, mỗi bữa chẳng ăn được bao nhiêu nên đến giờ Tuất bà thường dùng thêm bữa phụ, ông cũng dùng chung với bà ạ.
Hai chị em họ Lý liếc nhìn nhau, nét mặt ai nấy cũng buồn bã.
Chu Kỳ nhìn hai người. Lý Đại Nương nhỏ nhẹ nói:
– Vì chuyện của Nguyễn thị mà hai cụ nhà con giận dỗi nhau đã lâu. Có một lần giận quá, cha con đã dọn tới nơi này ở, cơm nước cũng dùng riêng, lâu lắm rồi không dùng bữa chung với mẹ con.
Chu Kỳ gật gật đầu, hỏi hầu gái:
– Không biết lúc ấy hai cụ dùng gì?
Hầu gái đáp:
– Dạ bà chỉ dùng một miếng bánh phục linh củ mài, còn ông thì uống một chén nhỏ sữa dê hoa quế.
Chu Kỳ nhìn hầu gái kia, nói:
– Trí nhớ cũng tốt đấy.
Hầu gái thoáng khựng lại, đáp:
– Hiếm khi ông dùng điểm tâm với bà nên con mới nhớ kỹ ạ.
Chu Kỳ gật đầu. Phạm Kính nhíu mày, hỏi:
– Chẳng lẽ… Chu chân nhân nghi ngờ có kẻ bỏ thuốc độc?
Hai chị em họ Lý giật thót. Lý Đại Nương đập nhẹ vào tay áo của chồng, nói:
– Chuyện thế này chớ nói bừa! Làm gì có ai dám bỏ độc ở chỗ của mẹ?
Phạm Kính xấu hổ cười nói:
– Tôi thấy Chu đạo trưởng hỏi han chuyện ăn uống nên mới đột nhiên nghĩ vậy.
Chu Kỳ mỉm cười nói:
– Bần đạo cũng chỉ thuận miệng hỏi vậy thôi. Phần lớn những người bị trúng độc thì sắc mặt thường xanh xám, tái mét, nôn mửa, tiêu chảy liên tục. Còn lệnh nghiêm đường thì chỉ ngủ li bì mà thôi.
Một hầu gái khác vốn hầu hạ trong phòng này bỗng tái mặt, nói:
– Sáng hôm ấy con gọi mãi mà ông không dậy. Con còn thấy khóe môi ông và cạnh gối còn dính chút sữa ạ.
Lý Đại Nương vội hỏi:
– Mày nói thật chứ?
Hầu gái vội quỳ xuống:
– Dạ thật, lúc ấy rối ren quá, lại nghe đại phu sắp tới nên bọn con vội vàng dọn dẹp ạ.
Lý Đại Nương nhìn sang chồng với em gái rồi nhìn lại Chu Kỳ:
– Lẽ nào là…
Chu Kỳ lên tiếng trấn an ngay:
– Theo bần đạo biết, bệnh tim cũng như nhiều chứng bệnh khác, khi phát tác đều có thể gây nôn mửa. Tình hình của ông nhà thì chưa thể nói chắc được.
Lý Nhị Nương nói:
– Đại phu cũng nói có lẽ cha con mắc bệnh tim. Chỉ là hai hôm nay đã đút thuốc cho cha con rồi nhưng không thấy khởi sắc.
Chu Kỳ ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
– Bần đạo thấy bệnh tình của ông nhà vẫn coi như là ổn định. Trưa nay hoặc chậm nhất là ngày mai, bần đạo sẽ mời một vị đại phu có y thuật cao minh đến chẩn bệnh cho ông ấy.
Phạm Kính và hai chị em Lý thị vội vàng cảm ơn.
Chu Kỳ lại ngỏ ý xem bức tranh kia.
– Từ hồi cha con gặp chuyện chẳng lành, bọn con nghi ngờ Nguyễn thị, bèn đi tìm bức tranh kia để đốt đi. Thế nhưng bọn con đã tìm khắp thư phòng của cha con mà chẳng thấy đâu. Nếu Chu chân nhân cũng thấy bức hoạ đó quan trọng, dẫu có phải lật tung cả thư phòng lên, con cũng phải tìm ra cho bằng được.
Chu Kỳ gật gật đầu.
Nói hết chuyện chính thì cũng đã đến cuối giờ Tỵ, Chu Kỳ từ chối ý tốt mời dùng cơm của nhà họ Lý, dẫn theo Tiểu Lục ra ngoài.
Trần Tiểu Lục xoa xoa bụng, cười nói:
– Em không dám ăn cơm nhà họ đâu, nhỡ đâu ăn một miếng rồi lăn đùng ra ngủ thẳng cẳng thì gay go.
Chu Kỳ cười khẽ, lăn lộn trong cái nghề này lâu rồi dễ sinh lòng đa nghi, đến cả thằng nhóc vô tâm vô tư như Tiểu Lục cũng không ngoại lệ.
Thằng nhóc Tiểu Lục hỏi:
– Mình đi đâu ăn cơm đây?
Chu Kỳ chỉ roi ngựa về hướng phường Quang Đức, nói:
– Tới nhà cậu Thôi ăn ké nào.
Mấy chuyện thế này mà quên Thôi Dập thì không được, vả lại còn phải mượn đại phu trong phủ của anh ta nữa mà.
Trần Tiểu Lục cười toe toét:
– Thế thì còn gì bằng! Thôi Thiếu doãn hào phóng rộng rãi, lần nào ngài ấy cũng dẫn đi ăn chỗ ngon cả.
Từ phường Hoài Viễn đi thêm vài bước là tới phường Quang Đức. Bọn họ đã quen nhau lâu nên chẳng cần bẩm báo gì, Chu Kỳ cứ thế dẫn Trần Tiểu Lục vào thẳng phủ Kinh Triệu.
Hôm nay là hai mươi sáu tháng Chạp. Tính từ ngày mai, à không, phải nói từ trưa hôm nay mọi người sẽ bắt đầu nghỉ Tết, các quan viên người thì dọn dẹp phủ nha, người thì túm tụm nói chuyện với nhau.
Thấy Chu Kỳ đi vào, mọi người rối rít đứng lên chào, lên tiếng chúc Tết như “năm mới may mắn”, “phúc thọ dài lâu”, v.v..
Chu Kỳ bèn chúc lại:
– Thăng quan phát tài.
Mọi người cười rộ lên, nói:
– Chu Tướng quân nhà chúng ta là khéo ăn nói nhất.
Tuy chi Hợi của Can Chi Vệ có chút xung đột về lợi ích với phủ Kinh Triệu, nhưng đôi bên vẫn thường xuyên hợp tác với nhau. Chẳng hạn như vụ án toà nhà ma ám ở phường Thăng Bình mấy hôm trước, hai bên phối hợp khá ăn ý. Hơn nữa, Chu Kỳ là người coi anh em bốn bể đều là bạn, thế nên người trong phủ Kinh Triệu ai nấy cũng đều vui vẻ với nàng, ngoại trừ… Trịnh Phủ doãn.
Ấy vậy Chu Kỳ vẫn muốn hỏi thăm ông ấy:
– Sao không thấy Phủ doãn đâu thế?
– Sáng nay vừa họp xong thì Phủ doãn đi ra ngoài rồi. Còn Thiếu doãn vừa nãy vẫn còn ở đây đấy.
Mọi người cũng biết nàng tới tìm ai. Đám người đang nói chuyện thì Thôi Dập bước vào.
– Ủa, A Chu, tôi cũng đang định tìm cô đây này. Có người mới tặng tôi thanh bảo đao Tây Vực, nghe nói là do người Đại Thực đúc. Hôm nào rảnh rỗi cô tới xem giúp tôi với nhé.
Hai người cùng nhau rời khỏi phủ Kinh Triệu. Chu Kỳ bèn kể sơ lược chuyện nhà họ lý ở phường Hoài Viễn cho anh nghe.
Thôi Dập vốn khoái nghe mấy chuyện ly kỳ cổ quái kiểu này nên vừa nghe đã thấy hứng thú ngay.
Chu Kỳ cười nói:
– Biết ngay là anh thích chuyện này mà, thế nên tôi mới vội tới báo cho anh hay đây.
Thôi Dập cũng cười:
– Đâu chỉ mình tôi, anh Tạ chắc chắn cũng hóng hớt lắm cho mà xem. Hay là chúng ta rủ anh ấy đi cùng nhỉ? Giờ này Đại Lý Tự chắc cũng tan sở rồi đó.
Chu Kỳ cười hì hì, nói:
– Tôi ăn ké cơm nhà anh Tạ một bữa rồi, ngon tuyệt! Hay là chúng ta cứ tới nhà anh ấy ăn chực một phen nhỉ?
Thôi Dập vỗ tay tán thưởng:
– Được đấy! Tôi cũng mê tít cơm nhà anh Tạ.
Hai người mặt dày này ăn rơ với nhau hết sức, quyết định mò tới nhà họ Tạ ăn chực. Thôi Dập lại còn “chu đáo” đến mức sai cả người hầu sang tận Đại Lý Tự báo trước với “đương sự” một tiếng.
Tạ Dung vừa về đã thấy hai người đang ngồi trên chiếc sập chàng vẫn thường ngồi, nhâm nhi trà của chàng, ung dung đánh cờ của chàng tự nhiên như ở nhà. Còn vị Chu Tướng quân kia thậm chí còn đang ôm bé mèo cưng của chàng nữa!
Chu Kỳ phải mất bao công sức mới ôm được con mèo này. Nhờ lão bộc nhà họ Tạ chuẩn bị cho nàng một đĩa thịt gà xé sợi nho nhỏ, nó mới chịu cho Chu Kỳ v**t v*, dần dà mới ngoan ngoãn cho nàng ôm vào lòng.
Lúc Tạ Dung về, Chu Kỳ cũng chẳng định trả mèo lại cho chàng.
Hôm nay Chu Kỳ thấy Tạ Thiếu khanh ngứa mắt hết sức, ngồi trên ghế của chàng, v**t v* mèo của chàng lại càng thấy càng ngứa mắt hơn. Cuộc sống của chàng thư thái quá rồi! Ngày nghỉ không phải đến nha sở, ở trong cái sân nhỏ thế này nhâm nhi trà, đọc sách, nựng mèo, trồng hoa, lại còn có lão bộc nấu đủ món ngon cho ăn nữa… Rõ ràng là đồng nghiệp, tại sao nàng phải ở trong cung Hưng Khánh lạnh lẽo, ăn cơm ở bếp công chứ?
Xem ra Khổng Tử nói quả không sai: “Chẳng sợ chia ít, chỉ sợ chia không đều”. Trước đây, Chu Kỳ thấy mình sống cũng ổn, ngay cả khi đến nhà Thôi Dập, nhìn nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ sang quý, nàng chẳng hề thấy ghen tị. Vậy mà giờ đây nàng lại thấy thấm thía “cái sự chia không đều” ấy làm sao. Nhất là sau cái vụ con mèo kia vừa thấy Tạ Dung đã chẳng thèm ngó tới sợi thịt gà khô mà lập tức “phản bội”, chạy tót sang chỗ chàng.
Chu Kỳ cười ruồi, khách sáo với Tạ Dung:
– Hạ quan với Thôi Thiếu doãn không mời mà đến, xin Tạ Thiếu khanh chớ trách.
Tạ Dung bế bé mèo lên, vuốt vuốt lại bộ lông đã bị ai đó xoa đến rối tung cho nó, lại vỗ nhẹ lên mặt nó mấy cái như đang dỗ dành. Bé mèo kêu “meo meo” hai tiếng đáp lại.
Chu Kỳ dường như nghe ra ý mách lẻo trong hai tiếng “meo meo” ấy, trong lòng càng thấy ghen ghét hơn.
– Hai người cùng đến à? Có chuyện gì sao?
Tạ Dung ngồi xuống chỗ của mình nên Chu Kỳ đành phải ngồi sang chỗ dành cho khách.
– Đúng là có vụ án khá thú vị. Hôm nay A Chu tìm tôi, tôi nghĩ chắc anh cũng hứng thú nên cùng nhau đến tìm anh đây.
Chu Kỳ thấy Thôi Thiếu doãn đúng là anh em tốt, không nhắc chuyện nàng mới là đứa đòi đi ăn chực.
Chưa tới giờ cơm nên cả ba bèn bàn bạc về tình hình vụ án trước.
Thôi Dập thay Chu Kỳ thuật lại một lượt cho Tạ Dung nghe, rồi nói ra nhận định của mình:
– Tôi chẳng tin mấy chuyện oan nghiệt đời trước đâu.
Thôi Dập nhìn Chu Kỳ, nói:
– Chúng ta phá mấy vụ án ma quỷ kiểu này còn ít chắc? Lần nào mà chẳng có người đứng sau màn giở trò.
Chu Kỳ gật đầu:
– Các anh chưa đến cái nhà họ Lý đấy thôi, quả thật cũng hơi u ám. Nhưng chả phải ma quỷ gì đâu, mà là lòng người ấy.
– Chưa nói đến mấy chuyện như: Nguyễn thị giống như người trên bức hoạ, thân thế bí ẩn của thị, đứa bé sinh non, mối tơ vò tình cảm giữa Phương Ngũ Lang với Lý Nhị Nương với Nguyễn thị, sự đối đầu ngấm ngầm giữa Phương Ngũ Lang và anh rể Phạm Kính, chỉ riêng chuyện giữa Cao Tuấn với Lý phu nhân thôi cũng lắm chuyện để nói rồi.
– Cao Tuấn là một kẻ ruồng bỏ tình xưa nghĩa cũ, tham phú phụ bần. Vậy mà trong thư phòng lại cất giấu bức tranh vẽ hình bóng người xưa. Ông ta vẫn còn vấn vương tình cũ dang dở, hay đang hối tiếc khôn nguôi, hay chất chứa nỗi oán hận nào đó? Nếu là oán hận, thì ông ta hận bản thân mình hay hận người vợ đầu ấp tay gối?
– Lý phu nhân vốn là người giỏi tính toán lòng người. Qua lời ăn tiếng nói, thấy rõ bà ta là người quyết đoán và sắc sảo, sức chịu đựng phi thường. Mặc dù thừa biết trong thư phòng của Cao Tuấn cất giấu một bức hoạ như thế, bà ta vẫn vờ như không hay biết suốt bấy nhiêu năm. Bà ta từng phản đối Cao Tuấn lấy Nguyễn thị làm nàng hầu, nhưng Cao Tuấn một mực không nghe nên cũng đành nín nhịn cho qua. Mãi cho tới khi Cao Tuấn ngã bệnh, hôn mê mấy ngày liền, thấy chừng khó qua khỏi thì bà ta lập tức ra tay trừ khử Nguyễn thị.
Mải mê nghe hai người bàn luận tình tiết vụ án, Tạ Dung bưng chén đưa lên miệng mới sực nhớ ra chén này là của Chu Kỳ. Chàng ngượng nghịu mím môi rồi đặt chén xuống bàn, đẩy nó về phía Chu Kỳ.
Chu Kỳ bưng lên uống cạn trà gừng trong chén:
– Như vậy bao năm qua hai người vẫn luôn đồng sàng dị mộng sao? Buổi tối trước khi hôn mê bất tỉnh, Cao Tuấn đã dùng bữa ở chỗ Lý phu nhân…
Thôi Dập cười nói:
– Tôi đã nói từ lâu rồi mà, không cưới không gả mới bình an! A Chu này, cái gã sĩ tử lần trước ấy không được đâu. Ngay cả anh Tạ cũng nói hắn khiếm nhã. Hạng người ấy sao mà xứng với cô được.
Nhớ lại những ngày tháng cùng Chu Kỳ la cà khắp thành, khi thì giám định bảo đao, cưỡi danh mã, săn thỏ, khi thì nghe hát xướng, uống rượu, chơi cờ, đánh bài,… Thôi Dập bồi thêm một câu nữa:
– Trong mắt tôi ấy à, chẳng có ai xứng với cô đâu!
Chu Kỳ vốn định lườm Thôi Dập, nhưng rồi lại tít mắt cười, hùa theo trêu chọc:
– Tôi cũng cảm thấy quý nữ trong kinh này e là chẳng có ai xứng với anh đâu. – Rồi lại cất giọng đồng tình. – Tết này Trưởng Công chúa lại giục anh đi coi mắt nhỉ?
Thôi Dập gật đầu thật mạnh, nói:
– Ăn tết khổ lắm.
Chu Kỳ biết nỗi khổ của anh:
– Tết nhất đến nơi rồi, anh hẳn là lúc nào cũng tới chỗ này đến chỗ kia, nào là người lớn trong tộc, nào là họ hàng trong hoàng thất, rồi có các bậc đại thần già, sợ là ai cũng sẽ hỏi han một câu: “Sao còn chưa chịu cưới vợ? Thôi đừng kén chọn quá!”.
Thôi Dập cúi gằm, mặt sắp chạm vào cả bàn ăn:
– Tôi khổ quá mà…
Chu Kỳ vỗ về:
– Thật ra thì cậu cưới vợ rồi họ cũng sẽ hỏi: “Sao vẫn chưa có con?” Đến khi có con rồi họ cũng “khuyến khích” cậu mấy câu như: “Đông con thì lắm phúc”. Mấy chuyện này anh cứ nghĩ thoáng ra là được.
Thôi Dập càng nghe nàng khuyên lại càng chán, hoá ra cưới vợ rồi cũng chưa xong hả trời…
Lão bộc nhà họ Tạ cùng La Khải và Hoắc Anh bưng thức ăn lên. Nghe bọn họ nói vậy, lão bộc khẽ nhíu mày, lo nghĩ liếc Tạ Dung: “May mà cậu nhà mình chỉ ôm mèo ngồi đó chứ không hùa theo, bằng không chuyện lập gia đình sau này quá ư khó khăn…”
Lão bộc lại chăm chú nhìn Chu Kỳ một lượt, rõ ràng là một tiểu nương tử xinh đẹp, thông minh, lại còn làm Tướng quân, sao lại không muốn lấy chồng chứ? Lão bộc nghĩ đi rồi nghĩ lại: “Nếu tiểu nương tử này lấy chồng sớm thì đâu còn đến phiên của cậu nhà mình nữa?” Bỗng dưng lão bộc cảm thấy tiểu nương tử này rất xứng đôi với cậu nhà mình. Nhìn xem, ngay cả Phỉ Phỉ còn cho nàng bế đấy thôi, chứ người lạ thì đừng hòng tới gần nó. Ông lão nào còn nhớ gì đến đĩa thịt gà xé sợi mình đã chuẩn bị cho nàng nữa đâu.
Ba người đều đã rửa tay rồi về chỗ ngồi.
Vì buổi chiều còn có việc, Tạ Dung không uống rượu bữa trưa, Chu Kỳ và Thôi Dập cũng không uống rượu, ba người chỉ cùng nhau dùng bữa.
Lão bộc cố ý chỉ vào đĩa cơm chiên thập cẩm thịt muối, nói với Chu Kỳ:
– Tướng quân và Thôi lang quân đến cận giờ quá, tôi không kịp làm món cơm bát bửu chưng kia. Mời Tướng quân nếm thử món này xem có hợp khẩu vị không?
Tạ Dung hơi ngạc nhiên nhìn lão bộc. Lão bộc vẫn cười tủm tỉm, Tạ Dung ngoảnh mặt đi chăm chú ăn cơm của mình.
Chu Kỳ chẳng hề khách sáo mà xới một chén đầy vun, nếm thử một miếng rồi gật đầu lia lịa:
– Ngon lắm ạ!
Lão bộc cười, nói:
– Tướng quân, còn cả Thôi lang quân nữa, lần sau đến sớm một chút, tôi sẽ nấu món vịt bát bảo sở trường cho hai người.
Chu Kỳ lại gật đầu lia lịa. Tạ Dung dịu giọng nói với lão bộc:
– Bác Đường, bác mau đi dùng cơm đi kẻo nguội bây giờ, cứ mặc kệ bọn tôi là được.
Lão bộc nhoẻn cười rồi lui ra, trước khi đi còn múc thêm cho Chu Kỳ một chén canh.
Thôi Dập không khỏi hâm mộ:
– A Chu này, cô nói xem sao cô lại được lòng mọi người thế? Mấy đứa hầu gái A Đường, A Lê nhà tôi cũng thường hay hỏi: “Sao dạo này không thấy Chu Tướng quân đến chơi vậy?” Đến cả đám hầu trai nhà tôi, thằng Đích Lư ấy, hễ nghe phải đến cung Hưng Khánh đưa tin cho cô là giành nhau đi đó.
Chu Kỳ gắp một viên chả cá cho vào miệng, ăn xong xuôi mới ra vẻ đăm chiêu:
– Cái này… chắc là do trời sinh nhỉ?
Bây giờ Tạ Dung đã quen với cách nói chuyện của hai người nên chỉ chăm chú ăn cơm của mình.
Vậy mà Thôi Dập lại còn ghẹo chàng:
– Nếu không phải là cô mà là nữ lang khác, khéo tôi lại tưởng bác Đường thấy vừa ý, định khuyên anh Tạ cưới về làm vợ đấy.
Miếng cơm trong miệng như nghẹn lại, Tạ Dung suýt chút nữa thì sặc bèn lấy khăn che miệng, nghiêng mặt ho khẽ mấy tiếng.
Chu Kỳ với Thôi Dập đều cười phá lên.
Chu Kỳ cười cợt, hỏi:
– Đâu đến độ đó chứ? Anh nghe tin sắp lấy vợ mà mừng đến thế cơ à?
Thôi Dập cũng hùa theo:
– Anh Tạ rõ là sợ thì có, tưởng bác Đường nhà mình chấm cô rồi chứ sao.
Chu Kỳ không vui ra mặt:
– Tôi thì sao cơ? Làm gì mà sợ đến cỡ đó?
Nói đoạn, nàng quay sang nhìn Tạ Dung vẻ như muốn hỏi cho ra nhẽ.
Tạ Dung thấy khó mà ăn trọn bữa cơm này, uổng công chàng không ăn luôn ở nhà bếp công, nhịn bụng đói meo đội gió rét chạy về đây ăn cùng họ.
Không chờ Tạ Dung trả lời, Chu Kỳ đã bật cười rồi nói với Thôi Dập:
– Dù sao còn hơn là bác ấy vừa mắt anh.
Thôi Dập cười khà khà, nói:
– Tôi thì không có cái đam mê ấy đâu. Anh cũng không có chứ, anh Tạ?
Tạ Dung xụ mặt, ra vẻ chủ nhà nói:
– Ăn cơm không nói chuyện, mau ăn đi!
Đám người nói đùa thêm dăm ba câu nữa thì quay lại nói về tình tiết vụ án.
Tạ Dung nói:
– Hồi còn giữ chức Biệt Giá ở Phu Châu, tôi nghe một lái buôn người Hồ nói thầy lang của họ có một thứ thuốc không màu, không vị. Nếu dùng một lượng nhỏ thì giúp an thần; nếu dùng quá liều sẽ mê man bất tỉnh, mất hết tri giác; nếu dùng liều lượng quá lớn thì có thể dẫn đến tử vong. Loại thuốc này nghe như là Ma phí tán của thần y Hoa Đà đời nhà Hán. Nhưng trong “Hậu Hán Thư” có chép, Ma phí tán ấy phải dùng với rượu, còn theo lời lái buôn người Hồ thì loại thuốc này kỵ rượu. Nếu lỡ uống nhầm ắt sẽ phải chết. Chu Tướng quân thấy triệu chứng của Cao Tuấn kia liệu có liên quan gì với loại thuốc của người Hồ này không?
Chẳng đợi Chu Kỳ, Thôi Dập kịp nói gì, Tạ Dung đã lắc đầu:
– Bệnh tim đúng là có thể dẫn đến hôn mê. Hơn nữa, cũng có người bị bệnh tim nhưng trước đó không hề có triệu chứng gì cả… Trước hết cứ loại trừ khả năng bệnh lý tự nhiên đã. Hiển Minh, e là phải nhờ đại phu của phủ Trưởng Công chúa đến xem một chuyến rồi.
– Tôi đã bảo người đi mời Bàng đại phu rồi. Dạo này gia tổ mẫu mạnh khoẻ nên cho bọn họ về nhà ăn Tết cả, dặn bọn họ ra Tết hẵng quay lại.
Tạ Dung gật đầu.
– Mặc kệ người khác thế nào, Nguyễn thị này chắc chắn có bí mật gì đó. Ngoại trừ bệnh tình của Cao Tuấn, trước hết chúng ta cứ bắt đầu điều tra từ Nguyễn thị này đã.
Chu Kỳ nói:
– Tôi đã hỏi thử rồi, nhà mẹ Nguyễn thị ở phường Đôn Nghĩa.
Thôi Dập nói:
– Vậy chúng ta tới phường Đôn Nghĩa trước đi. Ông Bàng có tuổi rồi, đi chậm lắm, để tôi bảo người nhắn ông ấy đến thẳng cổng phủ Kinh Triệu ở phường Quang Đức chờ chúng ta. Lúc ông ấy đến, có khi chúng ta cũng vừa dò hỏi xong chuyện nhà họ Nguyễn quay về rồi đấy.
Chu Kỳ lại nói:
– Anh đến phường Đôn Nghĩa thì chẳng sao, chứ tới nhà họ Lý phường Hoài Viễn e là không tiện lắm đâu.
Thôi Dập là tay chơi hạng nhất nhì trong con em nhà quyền quý ở kinh thành, lại hay lượn lờ chỗ này chỗ kia nên người biết mặt của anh nhiều vô kể. Tên Phạm Kính kia biết đâu chừng lại nhận ra Thôi Dập. Giờ chuyện nhà họ Lý có án mạng hay không vẫn chưa rõ, nhà người ta cũng không báo án, phủ Kinh Triệu e là không tiện công khai can thiệp, dễ đánh rắn động cỏ.
Tuy Chu Kỳ cũng hay la cà khắp kinh thành, lại còn dính vào đủ loại tin đồn kỳ quái, nhưng suy cho cùng Can Chi Vệ là một chi bí mật thuộc Cấm Vệ Quân, dân chúng ít ai biết đến. Hơn nữa, Chu Kỳ thường chỉ mặc thường phục, thậm chí mặc cả đạo bào nên chẳng mấy ai biết được thân phận thật của nàng.
Mà kể ra Tạ Thiếu khanh còn tiện hơn. Chàng mới tới kinh thành, ngay cả quan viên còn có khối người không biết mặt chàng nữa là dân chúng.
Thôi Dập ngẫm nghĩ rồi nói:
– Thôi được rồi, tôi cứ ở nhà chờ tin tức vậy. Nếu có bằng chứng xác thực bệnh tình của Cao Tuấn đúng là do trúng độc, thì tôi lại đi với hai người.
Dùng cơm xong, ba người chia ra. Thôi Dập về nhà thì không nhắc tới nữa.
Phường Đôn Nghĩa là một khu nghèo khổ. Chu Kỳ định đến đó âm thầm điều tra nhưng áo quần trên người quá nổi bật, bèn giục ngựa quay về thay quần áo rồi mới dẫn Tiểu Lục đến điểm hẹn gặp Tạ Dung.
Phường Đôn Nghĩa rộng lớn nhưng nhà cửa lại thưa thớt, phòng ốc cũ kỹ. Nhà họ Nguyễn ở đó cũng thuộc hàng khá giả.
Tuy chỉ là toà nhà có một sân nhưng lại là nhà ngói, trông còn rất mới, cửa ngõ quét tước khá sạch sẽ. Nguyễn mẫu chừng năm mươi tuổi, bên cạnh có một bà vú trung niên theo hầu. Chu Kỳ nhìn kỹ Nguyễn mẫu, thầm đoán xem liệu bà ta có phải là Triệu thị kia không, lại thấy chuyện này hoang đường quá đỗi. Vả lại, khi Cao Tuấn lấy Nguyễn thị làm lẽ, Lý phu nhân ắt hẳn đã gặp Triệu thị. Mặc dù bao năm đã trôi qua rồi nhưng nếu bà ta chính là Triệu thị thì họ ắt phải nhận ra được.
Chu Kỳ thuận miệng bịa ngay một lý do giải thích cho mục đích chuyến đi của cả nhóm:
– Chúng tôi định tìm một chỗ trong mấy phường gần đây để xây đạo quán. Thấy tòa nhà của ngài đây khang trang, đẹp đẽ, nghĩ bụng thợ xây cũng là người đáng tin nên muốn vào hỏi thăm đôi điều.
Nghe thế, Nguyễn mẫu tươi cười mời họ vào nhà.
Chu Kỳ bước vào nhà, ngó nghiêng một vòng rồi khen thêm một câu:
– Đất lành nhà tốt, toà nhà của ngài xây đẹp thật.
Trần Tiểu Lục ở phía sau len lén nhếch môi cười nhẹ. Đây đã là lần thứ hai trong ngày chị Chu khen nhà người ta là “đất lành nhà tốt” rồi. Mà toà nhà đầu tiên bây giờ đang bận “trừ yêu” tới gà bay chó sủa đấy… hay là chị cả đang ám chỉ nơi này là “hang ổ của yêu quái”? Trần Tiểu Lục đi theo Chu Kỳ đã lâu, thừa hiểu tính tình của nàng. Chị cả nhà cậu e chẳng có thâm ý sâu xa đến thế, hẳn chỉ là thuận miệng nói bừa vậy thôi. Ai mà chả biết cái tài xem phong thuỷ của chị cả nhà mình gà mờ cỡ nào…
Vậy mà vị Tạ Thiếu khanh nghe xong còn hùa theo, gật gù nói:
– Quả là đất lành nhà tốt, một chốn an cư lý tưởng.
Trần Tiểu Lục lại càng hoang mang hơn.
Nghe cả hai người đều nói vậy, Nguyễn mẫu càng vui mừng hơn:
– Hồi xây cất toà nhà này, tôi đã cất công mời thầy đến xem. Vị đạo trưởng đó cũng nói là tốt lành đấy ạ.
Chu Kỳ gật đầu, mỉm cười nói:
– Xin hỏi thí chủ xây cất toà nhà này từ khi nào? Mời thợ thầy ở đâu đến làm thế ạ?
Nguyễn mẫu cười đáp:
– Tu sửa từ hồi đầu xuân năm ngoái đấy. Tôi nhờ đám người Chu Tam Lang ở phường Đại Thông bên cạnh ấy. Chúng tôi nhà nghèo cửa nhỏ, mướn dăm ba thợ thầy là làm xong thôi. Đạo trưởng định cất đạo quán lớn thì e phải tìm thợ thầy nổi tiếng mới được.
Chu Kỳ gật đầu, không hỏi thêm về việc này nữa mà cùng Nguyễn mẫu vào nhà.
Thấy Nguyễn thị là người lớn tuổi, Tạ Dung cũng không tiện xen vào mà cứ để Chu Kỳ hỏi chuyện.
Chu Kỳ quả là khéo gợi chuyện, nào là “Toà nhà lớn thế này mà chỉ có một mình lão thí chủ thôi sao? Con cháu bà không ở nhà ạ?”, “Hả? Lão thí chủ có một cô con gái ư? Cô ấy lấy chồng ở phường nào vậy? Lão thí chủ đã có cháu ngoại chưa? Nếu chưa có, bần đạo có thể tặng chị ấy một lá bùa cầu con trai.”, “Muốn xem vận hạn thì phải biết được bát tự. Xin lão thí chủ cho bần đạo biết bát tự của con gái thí chủ.”, “Con gái thí chủ lấy chồng khá muộn, chẳng biết là có duyên cớ gì không?”, “Con gái thí chủ với Cầu Lang kia đúng là vô duyên vô phận.”, “Chuyện ở nhà nhà chồng có thuận hay không cũng phải xem bát tự mới rõ. Lão thí chủ lại cho bần đạo xin thêm bát tự của con rể, để bần đạo tính thử một quẻ xem sao.”,…
Chu Kỳ lắc đầu:
– Con gái và con rể của lão thí chủ quả là có duyên vợ chồng, nhưng sợ là không được phúc làm bạn đến già.
– Tôi…
Bà lão mấp máy môi, định hỏi gì đó rồi lại thôi:
– Con bé cái gì cũng tốt, chỉ riêng đường tình duyên thì hơi lận đận, âu cũng là vì lo cho cái nhà này. Mong sao sau này nó được thuận lợi.
…
Sau khi ra khỏi nhà họ Nguyễn, Chu Kỳ nhìn Tạ Dung, nhà họ Nguyễn này đúng là có điểm đáng ngờ:
– Hay chúng ta hỏi thử mấy người hàng xóm xem sao nhỉ?
Tạ Dung gật đầu.
Gần đó có một cái giếng nước, tình cờ có một người phụ nữ trẻ đến gánh nước, ba người Chu Kỳ bèn tới gần bắt chuyện.
– Nhà họ Nguyễn ấy mới chuyển đến đây được vài năm thôi. Ban đầu còn phải ở nhà thuê, thế mà giờ đã xây được cơ ngơi khang trang vậy rồi. Chậc, chậc,… đẹp đúng là sướng thật đấy.
Nghe thấy câu nói đầy ẩn ý này, Chu Kỳ vội hỏi:
– Sao lại nói thế ạ?
Người phụ nữ trẻ liếc Tạ Dung, thẹn thùng cười nói:
– Chuyện này… thiếp khó mà nói được.
Chu Kỳ có vẻ chán ngán lườm Tạ Dung một cái, thầm nghĩ: “Dẫn theo anh đúng là phiền phức! Đẹp trai thì có ích gì chứ?”
Tạ Dung thản nhiên dắt ngựa đi ra xa, quay sang ngắm giá ròng rọc bằng đá cạnh miệng giếng.
– Tiểu nương tử họ Nguyễn kia ban đầu định gả cho Tôn Nhị Lang trong phường này. Lúc trước hai mẹ con họ còn thuê nhà của nhà họ Tôn nên bên ấy chẳng lấy đồng nào, cứ qua lại như thế với nhau một hai năm. Ai dè sau này thế nào lại đính hôn với Cầu lang quân bên phường Vĩnh An. Nhà họ Cầu thì mở hàng đậu hũ. Tôi đồ cái khoản tiền mua lại tòa nhà cũ ấy chắc không ít thì nhiều cũng là tiền bán đậu hũ của nhà bên kia. Rồi chẳng hiểu thế nào tiểu nương tử đó lại giải trừ hôn ước với nhà họ Cầu, trèo lên một chỗ còn giàu sang hơn nữa. Nghe đâu giờ dọn sang ở trong ngôi nhà lớn bên phường Hoài Viễn, có người hầu kẻ hạ, vàng bạc đeo đầy mình đấy.
Chu Kỳ ghé sát vào, nói:
– Một cô gái như thế… trước khi lấy chồng, chắc là thường có nhiều lang quân trẻ tuổi, ăn vận bảnh bao lui tới lắm nhỉ?
Người phụ nữ trẻ vỗ tay, kinh ngạc nói:
– Đến chuyện này mà đạo trưởng cũng biết hả? Đạo trưởng mà không nhắc thì tôi cũng quên béng luôn rồi. Năm ngoái, tôi thấy một lang quân trẻ tuổi đến gặp cô ta. Đúng như lời đạo trưởng nói, ăn mặc sang trọng lịch sự, cưỡi tuấn mã, trông hệt như công tử con nhà giàu ấy.
– Chuyện đó là khi nào vậy?
Người phụ nữ ngẫm nghĩ một lát rồi đáp:
– Chắc là mùa xuân thì phải.
– Vậy thì không phải là lang quân nhà họ Cầu rồi.
– Đương nhiên rồi, bọn tôi đều biết mặt lang quân nhà họ Cầu đó mà.
Chu Kỳ hất cằm, liếc Tạ Dung một cái, giọng điệu ngả ngớn hỏi:
– Vị lang quân nọ trông có tuấn tú không? So với vị này thì thế nào?
Người phụ nữ trẻ bật cười, nói:
– Người ta cưỡi ngựa, đến đi vội vàng, sao mà thấy rõ mặt được?
Chị ta lại cắn môi, liếc trộm Tạ Dung rồi nói với Chu Kỳ:
– Theo tôi thì vị ấy thua xa vị lang quân này.
Chu Kỳ lắc đầu:
– Tiếc là vị này đã quyết chí đi tu, qua Tết là xuống tóc rồi…
Người phụ nữ cứ xuýt xoa tiếc nuối, rồi hỏi:
– Sao hai vị… một đạo sĩ, một thầy tu lại đi với nhau thế?
– Đều là người tu hành cả, gặp nhau thì có chút tình cảm hương khói thôi.
Trần Tiểu Lục cũng dắt ngựa tránh đi, bằng không cậu sắp không nhịn được mà cười phá lên mất. Chị Chu mới ăn ké cơm ở nhà Tạ Thiếu khanh, bụng còn chưa tiêu hoá hết đã quay sang nói xấu người ta rồi…
Ra khỏi phường Đôn Nghĩa, Chu Kỳ xoa xoa gương mặt lấm lét của mình một lát rồi nghiêm mặt lại, nói:
– Nguyễn thị kia e rằng là Triệu Cơ, chỉ không biết ai mới là Lã Công đây.
– Người phụ nữ kia không nhớ mặt mũi của kẻ đó sao?
Tạ Dung hỏi.
Chu Kỳ tiếc nuối lắc đầu.
Trần Tiểu Lục nghe mà chẳng hiểu trăng sao gì:
– Chị cả, sao nãy giờ em nghe mà chả hiểu gì thế?
Chu Kỳ thở dài:
– Bình thường tôi bảo cậu phải chăm đọc sách nhiều vào, cậu chỉ mê đánh bài, cưỡi ngựa, chọi gà. Bây giờ sao mà hiểu cho được.
Trần Tiểu Lục ấm ức, thầm nghĩ: “Cũng không biết những lúc em mê đánh bài, cưỡi ngựa, chọi gà như thế là đi với ai nữa…”
Chu Kỳ giải thích cho cậu về thân thế của Tần Thuỷ Hoàng:
– Trong “Sử Ký” chép rằng, thuở ấy phú thương Lã Bất Vi dâng cơ thiếp đang mang thai của mình cho Tử Sở, một hoàng tử nước Tần đang làm con tin. Cơ thiếp này sinh được một người con trai. Người con trai đó sau này chính là Tần Thuỷ Hoàng.
Trần Tiểu Lục gật đầu rồi lại lắc đầu. Cậu vẫn chưa hiểu lắm, chỉ thấy ngạc nhiên, thầm nghĩ: “Hoá ra chị cả không chỉ đọc truyền kỳ mà còn đọc cả ‘Sử ký’ cơ à…”
Chu Kỳ nói tiếp:
– Lang quân họ Cầu lấy vợ vào cuối năm ngoái. Còn Nguyễn thị thì mãi tới mùa xuân năm nay mới “tình cờ gặp” Cao Tuấn. Vậy tiền đâu mà nhà họ Nguyễn sửa nhà vào đầu xuân? Hai mẹ con họ mới từ nơi khác chuyển đến, ban đầu còn phải thuê một căn nhà ọp ẹp để ở, làm sao có khoản tiền ấy được.
– Cũng không thể hoàn toàn tin lời của người phụ nữ kia. Biết đâu chừng là do nhà họ Cầu hối hôn, không đòi lại lễ hỏi nên nhà họ Nguyễn mới lấy tiền sính lễ đó để tu sửa nhà ở thì sao?
– Một nhà bán đậu hũ liệu có thể đi lễ hỏi đủ để xây một toà nhà cỡ đó không? Chi được số tiền lớn thế này nhất định phải là một người giàu có.
Lúc này Trần Tiểu Lục mới vỡ lẽ, bảo sao vừa rồi chị cả lại mớm lời “lang quân trẻ tuổi, ăn mặc bảnh bao” cho người phụ nữ kia; cũng hiểu vì sao chị Chu với Tạ Thiếu khanh lại kẻ xướng người hoạ, nói “nhà tốt đất lành” các kiểu. Hoá ra tất cả là để điều tra thời gian tu sửa nhà. Hai người này cũng lắm trò quá đi…
Hai người ở nhà họ Nguyễn kẻ xướng người hoạ kia liếc nhau một cái, ai nấy đều ngầm hiểu mối nghi ngờ của đối phương. Một tên giàu có trẻ tuổi có tư tình với Nguyễn thị, lại còn biết chuyện xưa của nhà họ Lý, hẳn là đang âm mưu chiếm đoạt gia sản của nhà họ Lý…
Thế nhưng hai người không phải tay mơ mới tra án lần đầu nên thừa hiểu trong quá trình phá án, có nhiều việc không nên vội vàng đưa ra nhận định chủ quan, bằng không sẽ dễ đi chệch hướng, chỉ sơ sẩy một chút là dẫn đến án oan như chơi.
Chu Kỳ cùng Tạ Dung đến phường Quang Đức gặp Bàng đại phu rồi mới cùng nhau tới nhà họ Lý ở phường Hoài Viễn.
Ngờ đâu họ còn chưa tới nơi đã thấy người hầu đang bóc câu đối Tết, treo vải trắng lên cửa, Chu Kỳ thất kinh:
– Có chuyện gì thế này?
Người gác cổng nhận ra nàng, mặt mày buồn rầu, cúi người thưa:
– Ông chủ nhà tôi đi rồi ạ.
Chu Kỳ liếc Tạ Dung, thầm nghĩ: “Thôi xong, đến khám bệnh lại biến thành đi phúng viếng”. Chu Kỳ lại nhìn sang Bàng đại phu. “Vị Bàng đại phu này hôm nay e là phải kiêm luôn vai của Ngỗ tác rồi”.
Người ra đón vẫn là Phạm Kính, Chu Kỳ bèn ngỏ lời chia buồn với nhà hắn.
Đôi mắt Phạm Kính hơi ửng đỏ, hắn lắc đầu, thở dài một hơi, cảm ơn Chu Kỳ rồi nhìn qua Tạ Dung và Bàng đại phu:
– Hai vị này là?
Chu Kỳ vốn định giới thiệu Tạ Dung là “đệ tử” của Bàng đại phu, nhưng rồi thuận miệng sửa lại:
– Đây là bằng hữu của bần đạo, Bàng đại phu và Tạ đại phu. Họ giỏi trị bệnh tim lắm. Tiếc là ông Cao không chờ được.
Tạ Dung đã dẹp vẻ mặt lạnh lùng từ lâu, gương mặt tuấn tú giờ đây lại thấp thoáng nét hoà ái, từ bi, trông cũng ra dáng một thầy thuốc. Song, khí chất uy nghiêm vốn có vẫn còn đó nên Phạm Kính dường như còn kính trọng chàng hơn cả Bàng đại phu.
Phạm Kính dẫn ba người vòng ra nhà sau. Ông Cao mới mất chưa bao lâu, chỉ vừa mới được thay áo quần và khâm liệm sơ mà thôi. Bởi vì linh đường chưa kịp bày biện nên thi hài chỉ tạm được chuyển từ buồng ngủ ra gian chính. Lúc này, chị em Lý Đại Nương và mấy hầu gái đều đang khóc lóc thảm thiết, nhưng lại không thấy bóng dáng Lý phu nhân, Nguyễn thị và Phương Ngũ Lang đâu cả.
Vì mọi việc còn chưa chuẩn bị tươm tất nên nhà họ Lý vẫn chưa làm lễ phát tang. Thấy mấy người Chu Kỳ đi vào, Lý Đại Nương dẫn em gái ra đón. Chu Kỳ buồn bã nói:
– Hồi trưa tôi thấy bệnh tình của ông Cao vẫn còn tạm ổn, mới có mấy canh giờ sao đã vội ra đi thế này…
Lý Đại Nương khóc nói:
– Đạo trưởng về rồi, nhà con lại mời đại phu đến khám. Đại phu bảo mạch đập có vẻ mạnh hơn mấy hôm trước đôi chút, dặn cứ tiếp tục cho uống thuốc, không được dừng, có lẽ dăm ba bữa nữa là tỉnh lại. Nào ngờ, nào ngờ… đó là hồi quang phản chiếu…
Chu Kỳ gật đầu.
Tạ Dung hỏi:
– Hẳn là buổi trưa cũng đút thuốc cho ông ấy rồi nhỉ? Chén thuốc kia còn giữ lại chứ?
Lý Đại Nương lắc đầu, nghe Tạ Dung là đại phu bèn nói:
– Nhưng vẫn còn thuốc chưa sắc, cũng có cả đơn thuốc nữa. Để con bảo hầu gái lấy đến, nhờ tiên sinh xem giúp cho.
Tạ Dung gật đầu.
Hầu gái mang đến một thang thuốc và một tờ đơn thuốc.
Tạ Dung đọc lướt qua đơn thuốc rồi đưa cho Bàng đại phu. Sau đó, chàng mở thang thuốc ra, khẩy khẩy mấy vị thuốc rồi đưa lên mũi ngửi thử. Bàng đại phu xem đơn thuốc xong cũng nhìn gói thuốc rồi khẽ gật đầu với chàng.
Tạ Dung nói:
– Thuốc này cũng coi là đúng bệnh.
Lý Đại Nương vừa thút thít vừa gật đầu.
– Người đã mất rồi, kẻ làm nghề y như chúng tôi cũng đành bó tay. – Tạ Dung thở dài. – Chỉ là mỗ chuyên tâm nghiên cứu bệnh tim nhiều năm, nay nghe Chu đạo trưởng thuật lại triệu chứng của lệnh nghiêm đường thấy có nhiều điểm khác biệt so với thường lệ, chẳng biết có thể cho mỗ xem qua dung mạo của ông ấy một chút không?
Lúc nói chuyện, vẻ mặt chàng vô cùng nghiêm cẩn, trông hệt như một thư sinh đang cặm cụi khảo cứu từng câu từng chữ trong thư phòng vậy. Mặc dù yêu cầu này hơi đường đột, thậm chí là thất lễ, nhưng lại khiến người ta không sao từ chối được.
Lý Đại Nương phỏng chừng đã đoán ra lai lịch của chàng, còn trẻ như vậy chắc chàng là học trò của Thái Y Thự nên mới toát ra vẻ học thức như thế.
Lý Đại Nương gật đầu. Phạm Kính dẫn bọn họ tới chỗ thi thể của Cao Tuấn, vén tấm vải bố che mặt lên. Tạ Dung cúi xuống rồi lấy khăn tay ra lau khoé miệng của thi thể.
Hai chị em Lý Đại Nương và Phạm Kính đều tái mặt, chỉ nghe vị Tạ đại phu nhỏ giọng trách:
– Lau mặt cho người đã khuất phải làm cho cẩn thận chứ.
Đám người Lý Đại Nương thở phào một hơi. Vừa rồi hai chị em họ đã tự tay lau mặt cho cha, ai ngờ vẫn còn vết bẩn…
Chu Kỳ cạn lời, thầm nghĩ: “Tạ Thiếu khanh nhà ta diễn trò ‘vừa đánh trống vừa la làng’ nghệ quá là nghệ!”
Chu Kỳ cũng nheo mắt nhìn thi thể Cao Tuấn rồi nhìn sang Tạ Dung. Tạ Thiếu khanh phỏng chừng là muốn đưa thi thể ông Cao này về Đại Lý Tự để khám nghiệm tỉ mỉ hết miệng, mũi, tai, từ trong ra ngoài một phen lắm đây. Nhưng bây giờ nhà người ta không chịu báo án, cũng không có bằng chứng cho thấy đây là một vụ mưu sát nên không thể làm như vậy được. Nếu không, lỡ bị nhà người ta kiện ngược lại thì phiền phức lắm.
Lúc này là đến phiên “đạo sĩ rởm” như nàng lên đài rồi. Chu Kỳ phe phẩy phất trần:
– Ông Cao đã qua đời, Nguyễn thị có phải là oan nghiệt túc thế hay không, giờ thì dễ nhận ra rồi. Chi bằng mời Nguyễn thị tới gặp mặt một lát xem sao.
Phạm Kính nhíu mày, nói:
– Cô ta mà làm ầm lên thì khó coi lắm…
Chu Kỳ cố ý hiểu sai lời của hắn:
– Có bần đạo trấn giữ ở đây rồi, cô ta còn giở trò gì được?
Phạm Kính nhìn Chu Kỳ, khẽ gật đầu. Lý Đại Nương đã rối trí chẳng biết tính sao, Lý Nhị Nương chỉ biết khóc, còn Lý phu nhân thì đau thương quá đỗi. Mọi việc trong nhà giờ đây đều cho Phạm Kính quyết định, hắn bèn sai người dẫn Nguyễn thị tới.
Chu Kỳ lại hỏi:
– Sao chẳng thấy Phương Ngũ Lang đâu nhỉ?
Phạm Kính nói:
– Nhạc phụ tôi mới qua đời, Ngũ Lang vô cùng đau đớn. Tôi không dám để cậu ấy túc trực ở đây, sợ cậu ấy bi thương quá độ mà làm ra chuyện gì dại dột.
Chu Kỳ liếc nhìn hai chị em họ Lý, vừa hay bắt gặp ánh mắt của Tạ Dung.
Chẳng mấy chốc, Nguyễn thị đã được dẫn tới.
– Hết chương 25 –

