Kinh Hoa Trú Dạ - Bánh Anh Đào

Chương 82: Thần ưng (11)




Nội dung chương đang bị khóa. Vui lòng mở lại quảng cáo
để tiếp tục ủng hộ dịch giả và đọc Chương 82 miễn phí!

Bởi vì vụ án thần ưng của Hồi Hột liên quan đến sứ thần Hồi Hột và gián điệp của Thổ Phiên, nên hoàng đế ra lệnh cho Ngự Sử Đài, Đại Lý Tự và Hình Bộ cùng nhau thẩm tra. Đám người Thôi Dập và Chu Kỳ đã tham gia điều tra vụ án này từ sớm nên cũng được ngồi dưới công đường dự thính.

Tên Tang Đa Na Lợi này cũng là một người thẳng thắn, tuy lời nói có hơi bất kính với con người và phong tục của Đại Đường, nhưng kể lại quá trình gây án rất rành mạch.

Dựa vào lời khai của gã, Chu Kỳ đã xâu chuỗi các manh mối lại và làm rõ được bối cảnh và động cơ của vụ án này. Những năm gần đây, bộ lạc chủ chốt của Hồi Hột giao thương lâu dài với Đại Đường nên cuộc sống dần trở nên sung túc. Từ quý tộc cho đến bình dân, ai nấy đều dần chìm đắm trong hưởng lạc, nhất là lớp trẻ của thế gia vọng tộc, đa phần đều sùng bái phong cách của Đại Đường, ưa chuộng chải chuốt, dần mất đi “bản tính của sói và ưng” khiến chiến lực suy giảm nghiêm trọng. Trong khi đó, các bộ lạc xung quanh vừa lăm le ngôi vị Khả hãn, vừa thèm muốn lợi ích từ việc giao thương với Đại Đường, nên đã rục rịch nổi loạn. Điều này khiến Tang Đa Na Lợi vô cùng lo lắng.

Gã cho rằng nên xa lánh Đại Đường để bộ lạc quay lại với cuộc sống như ngày xưa. Song, đám người Trinh Cát Khả Hãn lại mong muốn mượn sức của Đại Đường, ngay cả Tùng Kỳ A Bố — trưởng tử dũng mãnh của Khả Hãn, Khả Hãn tương lai — khi săn được thần ưng cũng đều nghĩ đến việc dâng lên triều đình Đại Đường để cầu hôn công chúa.

Tang Đa Na Lợi cho rằng thần ưng giáng thế là để cứu vớt người Hồi Hột và gã có thể lợi dụng cơ hội này để cắt đứt quan hệ giữa Hồi Hột và Đại Đường. Vì thế, gã chủ động xin đi sứ sang Đại Đường. Gã có võ nghệ cực cao, rất được Khả Hãn và Tùng Kỳ A Bố tin dùng, chỉ là trong việc liên quan đến Đại Đường thì ý kiến đôi bên lại bất đồng. Nay thấy gã “thay đổi suy nghĩ”, Trinh Cát Khả Hãn vô cùng mừng rỡ, lập tức phong gã làm Phó sứ và cùng Hỗn Tề lên đường đến Trường An.

Về việc gã vào nhà nuôi ưng thế nào, giết ưng nô ra sao, Tạ Thiếu khanh phán đoán không sai một li. Gã kể rằng lúc giết thần ưng, gã không hề biết nó đã ăn phải thuốc mê, chỉ cảm thấy hôm nay thần ưng cực kỳ yên tĩnh…

Chu Kỳ càng nghe càng cảm khái, con chim ưng xui xẻo này ăn phải thuốc mê đã pha thêm bột khoai sọ nên thoát được một kiếp bị độc chết, ai ngờ lại không thoát được một nhát đao của người nhà. Thảo nào người ta hay nói: “Dân thường chẳng hề có tội, chỉ vì mang ngọc mà phải tội”. Con chim ưng này chẳng qua vì màu lông hiếm thấy, bị gán cho cái danh “sứ giả của thần” nên mới bị bao người nhòm ngó…

Ba người Tạ Dung, Chu Kỳ, Thôi Dập cùng nhau ở công đường nghe thẩm vấn xong thì đi ra.

Thôi Dập cũng có suy nghĩ giống Chu Kỳ:

– Biết bao kẻ muốn con chim ưng này chết, nó muốn sống cũng thật gian nan. Xem ra làm sứ giả của thần cũng chả phải việc tốt lành gì.

Thôi Dập lại nói với Tạ Dung:

– Anh Tạ, chiêu dụ dỗ lấy khẩu cung của anh càng ngày càng cao tay. Lúc đó tôi toát mồ hôi hột giùm anh luôn, nhỡ đâu gã Tang Đa Na Lợi kia không chịu nhận thì biết làm sao.

Tạ Dung mỉm cười nói:

– Mani giáo có “năm điều răn”. Đó là từ bi, thành tín, đầy đủ, nhẫn nhục và trí tuệ. Là một tín đồ ngoan đạo, Tang Đa Na Lợi ắt sẽ thấy khó chịu phần nào khi phải nói dối. Nhất là về chuyện giết thần ưng. Mặc dù gã cho rằng lần này thần ưng giáng lâm là để chịu chết, nhưng giết thánh vật trong tôn giáo của dân tộc mình, sao lòng gã không dao động cho được? Nếu quan sát thật kỹ, anh sẽ thấy mắt gã đầy tơ máu và vết rạch trên mặt rất sâu. Gã còn cắt tóc để tượng trưng cho việc chém đầu, sau nghi lễ rạch mặt cũng không bôi thuốc trị thương. Điều này cho thấy gã đang tự dằn vặt và tinh thần căng như dây đàn. Hơn nữa, với cái tính thẳng như ruột ngựa, làm sao gã có thể không bị lừa mà nói ra sự thật được chứ?

Thôi Dập nhìn Tạ Dung rồi quay đầu nhìn Chu Kỳ:

– Cô nói xem, kiểu người soi kỹ đủ thứ, tính toán đủ đường như anh Tạ vậy không thấy mệt à?

Chu Kỳ bĩu môi. Thôi Dập lại quay sang hỏi thẳng Tạ Dung câu hỏi hôm trước hỏi Chu Kỳ:

– Anh Tạ, ngày nào cũng suy nghĩ lắm chuyện như thế, bộ anh không sợ có ngày hói đầu hả?

Chu Kỳ híp mắt vui vẻ hóng chuyện. Tạ Dung liếc mắt nhìn Chu Kỳ, nghiêm túc ngẫm nghĩ:

– Chắc là không đến nỗi ấy đâu.

Chu Kỳ hùa theo trêu ghẹo:

– Sao lại không? Anh xem mấy vị Tướng công trong triều kia kìa… – Nàng bỗng bật cười. – Cơ mà chắc Tạ Thiếu khanh không đến mức như vậy đâu.

Thôi Dập quay đầu nhìn Chu Kỳ, kẻ vừa bất ngờ “phản bội”, hỏi:

– Vì sao?

Tạ Dung cũng nhìn nàng. Chu Kỳ lộ ra vẻ ranh mãnh, nói:

– Tạ Thiếu khanh không có vợ, cũng chẳng có nàng hầu, đến chú mèo nuôi trong nhà cũng là mèo đực. Thế thì… Hì hì…

Như đại phu thường nói, thận khỏe thì râu rậm tóc dày. Xem ra thận của Tạ Thiếu khanh khỏe lắm, khỏe lắm luôn đó nha.

Thôi Dập cười phá lên. Tạ Dung mím môi, lườm Chu Kỳ một cái, vành tai hơi ửng đỏ.

Chu Kỳ với Thôi Dập càng cười to hơn. Tạ Dung lại liếc Chu Kỳ, cuối cùng cũng bật cười theo.

Chu Kỳ luôn đi giữa lằn ranh mong manh giữa phong lưu và hạ lưu, cực kỳ biết chừng mực, chỉ cười một thoáng rồi nghiêm túc hỏi Tạ Dung:

– Không biết vụ án này sẽ kết thúc thế nào đây?

Tạ Dung nói:

– Chắc là trả về Hồi Hột, để Hồi Hột tự mình phán quyết thôi.

Chu Kỳ gật đầu. Thôi Dập nhướng mày, suy nghĩ một thoáng rồi gật đầu theo.

Chu Kỳ cười nói:

– Tĩnh An Huyện chúa coi như đã thoát được một kiếp, có thể an tâm bàn chuyện cưới hỏi với vị Thư học bác sĩ của Quốc Tử Giám kia rồi.

Tạ Dung, Thôi Dập đều gật đầu.

Quả nhiên, đúng như Tạ Dung và Chu Kỳ dự đoán, hoàng đế vô cùng giận dữ trước hành động của Tang Đa Na Lợi, nhưng nhờ các đại thần khuyên can, cuối cùng vẫn đồng ý trục xuất gã về Hồi Hột để Trinh Cát Khả Hãn xử lý. Còn chuyện hoà thân thì đương nhiên không nhắc lại nữa.

Kinh thành cuối xuân, cỏ xanh mơn mởn, oanh chao xập xòe*. Thôi Dập, Chu Kỳ đưa tiễn Hỗn Tề đến trường đình mười dặm* ngoài kinh thành, Tạ Dung cũng đi cùng bọn họ.

*

1. Nguyên văn “帝城春暮,草长莺飞” (đế thành xuân mộ, thảo trường oanh phi): Trong bài Thôn Cư của nhà thơ Cao Đỉnh thời nhà Thanh có câu “草长莺飞二月天” (thảo trường oanh phi nhị nguyệt thiên), theo giải thích ở trang 古诗文网, “草长莺飞二月天” là vào tháng Hai Âm lịch, cỏ xanh dần nảy mầm, hoàng oanh bay tới bay lui. Nhà xin mượn ý này để chuyển cụm “草长莺飞” thành “cỏ xanh mơn mởn, oanh chao xập xòe”. Nếu bạn đọc có ý hay hơn thì góp ý cho nhà với nhé.

2. Ngày xưa, đường đi chia ra từng trạm nghỉ chân (đình). Trạm ngắn (chừng năm dặm) gọi là “đoản đình”; trạm dài (chừng mười dặm) gọi là “trường đình”.

Chu Kỳ bẻ một cành liễu, thuận tay bện thành một chiếc vòng rồi mỉm cười đưa cho Hỗn Tề. Hỗn Tề chẳng màng xấu đẹp, đội luôn vòng hoa lên đầu mình.

Chu Kỳ nói:

– Tôi còn nợ anh một bữa cơm. Chờ khi Chánh sứ lại đến Trường An, tôi sẽ bù lại nhé.

Đoàn sứ thần Hồi Hội gặp phải chuyện thần ưng như thế, nên bữa cơm Chu Kỳ đã mời trước đó cũng đành phải gác lại.

– Cứ gọi tôi là A Khúc đi. – Hỗn Tề cười nói. – Là tên nhỏ mẹ tôi đặt cho tôi đấy.

Chữ “Khúc” trong “A Khúc” này hẳn là “khúc” trong “sông Khúc” nhỉ? Cố hương cả đời chẳng thể quay về…

Chu Kỳ bỗng nhiên thấy hơi chạnh lòng, lại cảm thấy áy náy vì trước đây từng nghi ngờ anh ta. Giữa người Hồi Hột, anh ta là người Đại Đường; giữa người Đại Đường, anh ta lại là dị tộc. Mặc dù anh ta đã đến Đại Đường từ nhiều ngày trước, nhưng hoàng đế chỉ gặp người cháu ngoại này đúng một lần. Giờ đây, khi quay về Hồi Hột, chẳng biết liệu vua cha có vì giận cá chém thớt mà trách mắng anh ta hay không.

Chu Kỳ nhìn Hỗn Tề:

– A Khúc đi chuyến này núi cao đường xa, xin hãy bảo trọng!

Hỗn Tề gật đầu, cười nói với nàng:

– Trước kia nghe A Kỳ nói chuyện, tôi thấy A Kỳ có vẻ mến mộ miền biên tái lắm. Nếu A Kỳ có dịp ghé đến phương Bắc, tôi sẽ dùng rượu mạnh và thịt cừu nướng để chiêu đãi nàng.

Chu Kỳ cười nói:

– Được! – Dứt lời, nàng bụm tay cụng nắm đấm với Hỗn Tề.

Tạ Dung mỉm cười, chắp tay cười nói:

– Núi cao đường xa, xin bảo trọng!

Thôi Dập ngồi trên lưng ngựa, bá vai Hỗn Tề một cái:

– A Khúc, bảo trọng nhé!

Hỗn Tề quay đầu ngựa, ngoảnh lại cười phóng khoáng rồi nói với ba người:

– Đi đây!

Sau đó, anh ta huýt sáo một tiếng, một người hầu hô lên câu gì đó, cả đoàn sứ thần đi về phương xa.

Nhìn bóng lưng của Hỗn Tề, Chu Kỳ cảm khái thở dài một hơi. Tạ Dung nói:

– Hỗn Tề về nước chắc không sao đâu. Dù sao thì Tang Đa Na Lợi vừa mới gây chuyện ở Đại Đường, nếu Hồi Hột không muốn cắt đứt quan hệ với Đại Đường thì sẽ không đụng đến con trai của công chúa đâu. Mấy năm gần đây, Trinh Cát Khả Hãn khá thân thiện với Đại Đường.

Chu Kỳ gật đầu, nghiêng đầu nhìn Tạ Dung, thầm nghĩ: “Đôi khi Tạ Thiếu khanh cũng thật là thấu tình đạt lý, chu đáo làm sao”.

Tạ Dung đột nhiên nhớ tới thuốc nàng tặng:

– Thuốc của Chu Tướng quân hiệu quả lắm, chỉ mới mấy ngày mà vết thương của tôi đã khỏi hẳn rồi, cám ơn cô.

Chu Kỳ cười đáp:

– Tạ Thiếu khanh đừng khách sáo.

Nghe hai người họ nói chuyện, Thôi Dập bỗng cau mày nói:

– Hai người ở sát vách, chúng ta lại hay hợp tác với nhau, sao vẫn còn “Tạ Thiếu khanh” với “Chu Tướng quân” mãi thế? Hai người coi Hỗn Tề kìa…

– Tạ Thiếu khanh là quan trên, tôi nào dám đường đột như thế?

Chu Kỳ cười phá lên, lúc nào nàng cũng có lý lẽ riêng của mình.

Tạ Dung khẽ l**m môi, gọi:

– A Kỳ.

Chu Kỳ bỗng thấy tai mình tê rần, bụng bảo dạ: “Có lẽ là vì giọng của Tạ Thiếu khanh trầm khàn chăng? Cũng không phải, trước giờ giọng của chàng có cao đâu? Hay là vì hiếm ai gọi mình là ‘A Kỳ’ nhỉ? Bà cụ Hàn gọi như thế; Tô sư phụ coi như gọi một nửa, còn những lúc khác là tức điên lên sẽ gọi cả họ lẫn tên; còn tên Hỗn Tề vừa mới tiễn đi ban nãy cũng gọi như vậy nữa. Nhưng nghe bọn họ gọi mình, mình cũng chả có cảm giác gì kia mà…”

Nghe Tạ Thiếu khanh gọi tên mình, Chu Kỳ bất giác nghĩ đến món sữa chua hồ đào của nhà họ Hồ ở chợ Đông. Nghe nói món này là dùng hạt hồ đào, táo đỏ và gạo nếp đã ngâm, xay nhuyễn rồi nấu lên. Hỗn hợp sau khi nấu sẽ sánh lại, có màu nâu đỏ nhạt, mịn màng vô cùng, có vị ngọt của táo đỏ và mùi thơm của hồ đào với gạo nếp. Khi uống vào, cảm giác ấm áp lan tỏa trong bụng làm lòng người cũng dịu lại, như thể chỉ cần khoảnh khắc này thôi cuộc đời đã trọn vẹn rồi.

Chu Kỳ xoa xoa bụng, lại đói rồi…

Nghe Tạ Dung gọi Chu Kỳ là “A Kỳ”, Thôi Dập cảm thấy hơi là lạ, thầm so sánh “A Chu” với “A Kỳ” thì thấy “A Chu” vẫn hợp với nàng hơn.

Chu Kỳ nhìn sắc trời rồi híp mắt cười hỏi:

– Chắc hôm nay Tạ Thiếu khanh không về Đại Lý Tự đâu nhỉ?

Tạ Dung gật đầu, hỏi:

– Chẳng lẽ A Kỳ nhớ đến bữa ăn ở lầu Phong Ngư rồi à?

Chu Kỳ:

– … Thôi được rồi.

Nàng thầm nghĩ: “Mắc nợ thì phải trả thôi. Dạo này bận chuyện của đoàn sứ thần nước Hồi Hột quá, lương tháng này nhận rồi mà vẫn còn để đó… ủa đâu có, mình ứng trước cho đám nhóc Can Chi Vệ rồi còn đâu.”

Thấy Chu Kỳ sảng khoái đồng ý rồi sau đó lại tỏ ra khó xử, Thôi Dập bật cười nói:

– A Chu à, cô làm kiểu gì mà để mình nghèo xơ xác thế kia?

Chu Kỳ chìa tay cho Tạ Dung với Thôi Dập xem:

– Các anh xem tay tôi đây này…

Thôi Dập nhìn tay của Chu Kỳ, nói với vẻ ngưỡng mộ:

– Vết chai này là luyện đao kiếm bao lâu mới được thế?

Tạ Dung cũng nhìn tay Chu Kỳ. Tay nàng khá nhỏ nhắn, ngón tay thon gầy trông khá giống thân trúc, trên tay có vết chai do cầm đao kiếm. Tạ Dung thầm thấy xót xa: “Đúng thế, phải chịu biết bao nhọc nhằn mới mài ra được vết chai thế này chứ.” Bàn tay đang nắm dây cương của chàng thoáng siết lại.

Chu Kỳ lại lôi cái “thuyết vận mệnh khốn khó” của mình ra, đổ vạ cho hai đấng sinh thành chẳng biết tên họ là gì:

– Nhìn kẽ tay của tôi đây này, thấy không? Của cải cứ lọt qua kẽ hở như thế thì trong tay có bao nhiêu của cải cũng chả giữ được. Cho nên tôi nghèo ấy à, âu cũng là cái số rồi! Cha mẹ cho thế thì biết làm sao.

Thôi Dập vừa nhìn tay mình, vừa nghĩ: “Chà, cũng toàn là kẽ hở, nhưng có vẻ nhỏ hơn của A Chu một chút.”

Thôi Dập lại nhìn tay Tạ Dung, Chu Kỳ cũng nghển cổ chờ xem. Tạ Dung lặng lẽ chìa tay mình ra. Thôi Dập vừa thấy kẽ tay của chàng thì cười ha hả:

– Anh Tạ, anh cũng là người không giữ được tiền của đấy.

Chu Kỳ thì cảm thấy tay Tạ Thiếu khanh thật đẹp: vừa thon dài lại vừa trắng trẻo, tuy có vài vết chai xù xì nhưng vẫn cứ hút mắt!

Chu Kỳ lại bắt đầu ngứa tay rồi, trong bụng thấy khoái chí ghê gớm, mấy hôm trước mượn cớ thoa thuốc đã tranh thủ sờ mặt, niết cằm của Tạ Thiếu khanh một phen rồi…

Nghĩ tới vết thương, Chu Kỳ nói:

– Bần đạo không chỉ giỏi xem tướng mặt, coi chỉ tay, mà còn hiểu đôi chút về đạo vẽ bùa nữa. Khắp người Tạ Thiếu khanh có luồng khí xanh ẩn hiện, chẳng rõ là điềm lành hay điềm dữ. Hay bần đạo vẽ một lá bùa bình an cho ngài đeo nhỉ?

Chu Kỳ đang nghĩ xem chàng sẽ từ chối thế nào, mình sẽ ép mua ép bán ra sao, cứ đưa qua đẩy về vài bận có lẽ chàng sẽ miễn cưỡng nhận lấy. Nào ngờ Tạ Dung lại nói:

– Được, cám ơn nhé.

Chu Kỳ:

– … Ờm, bao giờ vẽ xong bần đạo sẽ đưa sang cho Tạ Thiếu khanh.

Thôi Dập cạn lời, thầm nghĩ: “Anh Tạ, anh tỉnh táo lại coi, A Chu còn chưa thuộc hết “Đạo Đức Kinh” nữa là!”

Thôi Dập còn đang phân vân giữa việc vạch trần một người bạn và đứng nhìn một người bạn khác sắp bị lừa, thì Tạ Dung đã mỉm cười nói với Chu Kỳ, người vẫn luôn gọi mình là “Tạ Thiếu khanh”, rằng:

– Tôi sẽ tự tay nấu một bữa để đáp lễ lại lá bùa này nhé, mong A Kỳ đừng chê cơm canh nhà tôi đơn sơ. A Kỳ, Hiển Minh, hai người muốn ăn gì?

Thôi Dập lập tức hết phân vân luôn. “Vạch trần cái gì mà vạch trần! Đây rõ là một bên thì thích đánh còn một bên mê chịu đòn mà.”

Chu Kỳ cũng vui ra mặt:

– Thịt nướng đi! Lại ăn thịt nướng đi!

– Hết chương 82 –


Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.