Từ sau khi ngộ sát Thanh Đức, Thanh Hư cứ đờ đẫn và ngây dại suốt. Mọi việc lớn nhỏ trong đạo quán đều do các đạo sĩ lớn tuổi thuộc hàng chữ “Kính” cùng nhau lo liệu. Vì sư đồ Huyền Dương đều chết thảm, không tiện để lâu nên các đạo sĩ đã gieo một quẻ, cùng mấy người Tạ Dung bàn bạc rồi quyết định ba hôm sau sẽ hạ táng.
Hôm nay đã sang ngày thứ hai, các đạo sĩ tất bật xuống núi để mua quan tài, khâm liệm và tụng kinh cầu siêu. Những vị khách như Tạ Dung, Thôi Dập, Chu Kỳ, Đào Tuy đều không giúp được gì nên chỉ cần đến dâng hương là được.
Ngoài ra, các đạo sĩ vân du đang ở trọ trong đạo quán cũng đến dâng hương như bọn họ
Mấy vị đạo sĩ vân du này chỉ ở trọ chứ không quan tâm đến chuyện trong quán. Hai người lớn tuổi trong số đó đi đến hỏi Tạ Dung:
– Xin mạn phép hỏi quý nhân, hôm qua chúng tôi chỉ nghe nói Huyền Dương chân nhân đang ngồi thiền trong rừng thì bị hồ tinh làm hại, tối đến lại hay tin Thanh Nhân đạo trưởng mất tích. Sao giờ Thanh Đức đạo trưởng cũng qua đời rồi vậy?
Tạ Dung kể lại chuyện Thanh Nhân mang rắn độc đi gặp Thanh Đức. Thanh Đức dùng mũi tên giấu trong tay áo giết Thanh Nhân, sau đó giấu cả thuốc độc lẫn thuốc giải của ông ta đi. Cuối cùng, Thanh Hư chém Thanh Đức bị thương, đồng thời làm vỡ lọ thuốc khiến Thanh Đức trúng độc chết tươi.
Tạ Dung lắc đầu, nói:
– Anh em bất hoà như thế thì tai hoạ ắt không xa…
Các đạo sĩ vân du lắc đầu cảm thán, lại nói:
– Vậy Huyền Dương chân nhân…
Tạ Dung nói:
– Giờ ngẫm lại thì mọi chuyện có thể là do Thanh Nhân đạo trưởng gây ra. Trước đây, Huyền Dương chân nhân từng có ý truyền lại vị trí quán chủ cho Thanh Đức đạo trưởng. Mà giờ đạo quán lại có nhiều lợi ích nhờ quyển Thư son, Thanh Nhân đạo trưởng hẳn sẽ không cam lòng. Với tài dùng độc và võ công cao cường, Thanh Nhân đạo trưởng muốn giết Huyền Dương chân nhân ở trong rừng cũng chẳng khó gì Hơn nữa, ông ta cố tình để lại vết cào của cáo chẳng qua là để đánh lạc hướng, gạt bỏ hiềm nghi mà thôi. Nhưng suy cho cùng, người đã qua đời rồi, tất cả cũng chỉ là suy đoán mà thôi.
Các đạo sĩ vân du đều nói:
– Chắc hẳn là như vậy rồi.
Ngay trước linh đường, không tiện nói lời bất kính với người đã khuất, bằng không bọn họ đã thốt lên những câu như “Thanh Nhân đạo trưởng bình thường trông đã dữ tợn rồi”. Một người trong số đó lên tiếng:
– Cứ tưởng nơi này là chốn bồng lai tiên cảnh có lợi cho việc tu hành, ai ngờ…
Tạ Dung nghe vậy thì hiểu ý ngay:
– Chẳng lẽ đạo trưởng có ý đi xa?
Đạo sĩ này lại là một người thích nói những chuyện huyền bí:
– Bần đạo vốn đã xuất thế, lấy bốn phương làm nhà, còn nói chi đến chuyện xa gần chứ?
Tạ Dung gật đầu:
– Đạo trưởng nói phải lắm, là mỗ nông cạn rồi.
Chu Kỳ đứng bên cạnh lắng nghe Tạ Thiếu khanh tán gẫu với các đạo sĩ, nhưng ánh mắt lại liếc nhìn Đào Tuy đang trò chuyện với một đạo sĩ vân du ở gần đó…
Sau một ngày dài bận rộn và huyên náo, thắp tuần hương buổi tối xong, cả đạo quán đã yên ắng trở lại. Đèn đóm trong các sân nhà dần tắt hết, chỉ còn ba ngọn đèn hắt hiu trước linh đường soi rọi bóng dáng mấy đệ tử gác linh cữu đang ngủ gật gà gật gù.
Hai bóng người khẽ khàng mở then cửa đạo quán, bước ra ngoài rồi cùng nhau đi vào trong núi.
– Cứ châm lửa đốt chính điện trước đã, nơi đó không có người, đợi đến khi ngọn lửa lan rộng ra rồi, cho dù có người đến cứu hoả cũng không dập được đâu. Khi tất cả đã đổ dồn về đó, anh sẽ đi đốt linh đường, còn chú đi đốt đàn tế phía sau đi.
– Không! Để em đi đốt linh đường!
– Vậy cũng được, tiếc là đàn tế đó xây dựng chắc chắn quá, ít gỗ nhiều đá. Thôi thì đốt được đến đâu hay đến đó vậy.
– Em thấy nên đốt khách xá trước. Lúc tất cả đều lo thân mình không xong, chúng ta sẽ có đủ thời gian đi đốt linh đường với đại điện.
– Chúng ta đã bàn bạc xong cả rồi. Kẻ đầu sỏ đã chết, việc gì phải gây thêm tội nghiệt nữa chứ.
– Hừ! Lũ đạo sĩ này chẳng có kẻ nào tốt đẹp cả, đốt chết được đứa nào hay đứa ấy. Từ cái ngày chúng dọn đến đạo quán này thì đã không còn là người vô tội nữa rồi.
– Nhị Lang!
– Thôi, thôi, nghe lời anh vậy.
Hai người đến trước một hang núi. Người gọi là “Nhị Lang” thổi que đóm lên, bước vào trong:
– Sáng sớm em đã đến kiểm tra rồi, mọi thứ vẫn ổn cả. Em cứ lo lũ chuột làm đổ dầu…
Bỗng dưng “Nhị Lang” dừng lại, nhìn về phía ba cái bóng đen thấp thoáng ở chỗ để dầu, lưu huỳnh, nhựa thông và những vật khác trong hang.
Chu Kỳ dựa lưng vào vách đá, ngáp dài một cái:
– Hai anh mà không đến nữa là ta ngủ gật mất thôi.
Tạ Dung thản nhiên cất tiếng chào họ:
– Đào lang quân, Từ lang quân.
La Khải chỉ ôm kiếm đứng cạnh Tạ Dung.
Đào Tuy thoáng ngạc nhiên rồi mỉm cười, hỏi:
– Đã nói chuyện với quý nhân rồi mà vẫn chưa kịp hỏi, chẳng biết quý nhân đang giữ chức vụ gì? Chắc không phải là con em gia đình bình thường đâu nhỉ?
– Tạ Dung, Thiếu khanh của Đại Lý Tự.
Đào Tuy lại cười nói:
– Không ngờ lại đụng phải Thiếu khanh của Đại Lý Tự, chắc đây là ý trời rồi.
– Ý trời gì chứ!
Thợ đá Từ Nhị Lang móc ống trúc trên thắt lưng ra, vặn nắp, ném về phía Tạ Dung, sau đó ném luôn que đóm đánh lửa vào đống đồ dễ cháy kia.
Chu Kỳ sải bước chắn trước mặt Tạ Dung, vung đao chém con rắn độc thành hai khúc rồi mượn lực xoay người đón lấy que đóm kia.
La Khải cũng tuốt đao ra giao đấu với Từ Nhị Lang. Không ngờ Từ Nhị Lang lại là một người giỏi dùng đao.
Chu Kỳ xách đao xông lên, chặn lại lưỡi đao của Từ Nhị Lang rồi tiện tay dúi que đóm vào tay La Khải:
– Cứ để tôi!
Chu Kỳ gạt phăng lưỡi đao của Từ Nhị Lang ra, chém bổ liên tục, tấn công từng đợt dứt khoát và dồn dập.
Mặc dù bao năm nay Từ Nhị Lang luôn siêng năng khổ luyện, tính tình cũng có phần gan góc nhưng rốt cuộc vẫn không thể sánh bằng Chu Kỳ.
Chu Kỳ liên tục chém ra từng nhát đao mạnh mẽ nhắm thẳng vào ngực và bụng của đối thủ. Từ Nhị Lang không chống đỡ nổi, dần dần rơi vào thế yếu.
Ngay lúc này, nàng đột nhiên đổi sang đòn đánh trí mạng vẫn thường dùng: hất lưỡi đao trượt dọc theo thân đao của Từ Nhị Lang rồi gí sát mũi dao vào cằm của anh ta.
Chu Kỳ hừ khẽ một tiếng:
– Nếu vừa rồi không chém con rắn kia, hôm nay anh chắc chắn phải đổ máu rồi đấy.
La Khải đang cầm kiếm bên cạnh bảo vệ nàng chỉ muốn reo lên: “Chị cả oai quá!” như Trần Tiểu Lục. Nhưng vì Tạ Dung đang ở bên cạnh nên cậu đành nhịn lại, vội bước tới giúp Chu Kỳ trói Từ Nhị Lang.
Từ Nhị Lang quay đầu, nhìn về phía Đào Tuy vẫn đứng trơ trơ:
– Sao anh không…
– Anh ta có mắt hơn anh chứ sao! – Thôi Dập dẫn Tuyệt Ảnh và Đích Lư từ bên ngoài đi vào. – Sau này đừng giao việc mai phục đoạn hậu này cho tôi nữa, chả thú vị gì cả!
Thôi Dập nói vậy nhưng vẫn không quên khen ngợi Chu Kỳ:
– A Chu, cô càng ngày càng dũng mãnh, trông cứ như nữ chiến thần vậy, cái kiểu miệng có thể phun lửa ấy!
Chu Kỳ cười khẩy:
– Miệng phun lửa… có là yêu quái ấy!
Tuyệt Ảnh cầm đuốc chiếu sáng. Chu Kỳ liếc Từ Nhị Lang rồi nhận lấy que đóm trong tay La Khải, ném vào mấy thùng đựng “dầu” kia. Que đóm lập tức tắt ngúm.
Từ Nhị Lang sững cả người.
– Còn muốn phóng hoả thiêu bọn ta à? – Chu Kỳ bực bội nói. – Bộ bọn ta giống mấy đứa khờ đứng cạnh một đống đồ dễ cháy để đánh nhau với nghi phạm lắm hả?
Từ Nhị Lang chẳng nói gì.
Đào Tuy mỉm cười lên tiếng:
– Bị chư vị bắt được, chúng tôi cũng chẳng có gì oan ức. Có điều, không biết làm sao quý nhân lại phát hiện ra tôi và Nhị Lang, làm sao mà tìm được đến tận đây vậy?
Tạ Dung đáp:
– Lang quân tên là “Tuy”, trong sử sách có bài ca về người Đồ Sơn rằng “Tuy tuy bạch hồ, cửu vĩ bàng bàng”*. Chữ “Từ” trong tên của Từ lang quân tương tự với chữ “Đồ”. Tôi đoán Đào lang quân và Từ lang quân đều mang họ “Đồ” phải không? Chữ “Đồ” của tộc Đồ Sơn chăng?
*Nguyên văn “绥绥白狐,九尾庞庞” (Tuy tuy bạch hồ, cửu vĩ bàng bàng): Hồ ly trắng muốt, chín đuôi bông xù.
Trong tiếng Trung, chữ “từ” (徐) và chữ “đồ” (涂) gần giống nhau.
Đào Tuy gật đầu:
– Đúng vậy.
– Vậy nơi mà đạo quán này toạ lạc trước kia là chỗ tộc Đồ sinh sống ư?
Đào Tuy lại gật đầu xác nhận.
– Hôm ấy, chúng tôi đứng ven bờ thấy các anh đặt tảng đá lớn khắc Thư son. Lúc gỡ gạch lát nền lên, chỉ có hai anh là cẩn thận xếp gạch lại, còn những người khác đều ném bừa vào một đống. Tôi đoán chắc là vì trên những viên gạch đó có dấu hiệu của cáo trắng chín đuôi, biểu tượng của tộc Đồ.
– Vì ân oán năm xưa, hai anh đã nung nấu ý định trả thù, còn phải trả thù dưới danh nghĩa của gia tộc. Hai người đã làm giả Thư son, giấu nó vào trong cái hang sau thác nước. Có lẽ hai anh còn bắt chước tiếng cáo kêu nữa phải không? Chuyện hồ tiên ở bên hồ tu luyện dưới ánh trăng, chắc hẳn là do các đạo sĩ trong quán này thêu dệt để lấp l**m chuyện Thư son.
Đào Tuy nói:
– Đúng là Nhị Lang chỉ giả tiếng cáo kêu trong hang mà thôi.
– Mấy vết khắc cũ trong hang là do các anh khắc lúc nhỏ phải không? Chắc là hình cáo chín đuôi nhỉ?
Đào Tuy hơi ngớ ra, ngẫm nghĩ một lát mới đáp:
– Không nhớ rõ nữa, chắc là vậy đấy.
Tạ Dung gật đầu:
– Lang quân thường xuyên đến nơi này nên hiểu rõ tính tình, đam mê, cũng như mối quan hệ giữa Huyền Dương, Thanh Nhân và Thanh Đức. Thậm chí… lang quân còn “thân thiết” với Thanh Nhân hơn mức bình thường nữa. Vì vậy, lang quân mới bày ra kế sách “giết một mà kéo theo cả hai” này.
Đào Tuy mím chặt môi.
– Lang quân đã từng tặng cho Thanh Nhân một chiếc khăn vấn đầu phải không?
Đào Tuy quay đầu nhìn đi chỗ khác. Tuy y chỉ lặng thinh nhưng thái độ đó đã thay cho vạn câu trả lời.
Tạ Dung không hỏi về chiếc khăn vấn đầu lụa màu đen mềm mại của thư sinh kia thêm nữa, đổi sang chủ đề khác:
– Lang quân dễ dàng hoặc khó khăn lắm mới lấy được thuốc viên của Thanh Nhân, lại còn chế tạo ra một bộ bao tay, hoặc vũ khí sắc bén hình móng vuốt hồ ly. Còn cách giết Huyền Dương chân nhân thì tôi đoán lang quân đã cắm kim độc vào đệm hương bồ. Huyền Dương chân nhân ngồi xuống đệm thì trúng độc, ngã ngửa ra chết tươi.
– Các anh cùng một tiểu đạo sĩ quét sân chạy đến đó. Nhân lúc tiểu đạo sĩ hoảng hốt đi gọi những người khác tới thì dùng móng vuốt cáo giả hoặc vật sắc nhọn để tạo vết cào. Để đánh lạc hướng mọi người, các anh không chỉ cào vào mông mà còn cào trên lưng nữa.
– Lần này phải công nhận ông trời cũng giúp các anh. Nếu Huyền Dương chân nhân nằm sấp, tiểu đạo sĩ kia nhìn thấy đạo bào sau lưng ông ấy vẫn còn nguyên vẹn, e rằng các anh chỉ có thể cào xước da thịt của ông ấy chứ không thể cào rách quần áo ông ấy được. Dẫu có là “hồ tiên” đi chăng nữa, hành vi ấy vẫn hơi kỳ lạ, không thể tự nhiên như cách làm bây giờ.
Tạ Dung nhìn Đào Tuy:
– Chẳng hay các anh còn cách nào khéo hơn không? – Tạ Dung đưa mắt nhìn Chu Kỳ. – Chu Tướng quân từng đoán hung khí là một chiếc nỏ nhỏ giấu trên cây. Sáng sớm, trong rừng còn mờ tối, có lẽ Huyền Dương chân nhân đã đạp phải bẫy nối với chiếc nỏ rồi bị bắn trúng lưng. Lúc đó tiểu đạo sĩ vội vàng hốt hoảng nên không để ý. Sau khi bảo tiểu đạo sĩ đi gọi người, các anh chỉ cần thu dọn chiếc nỏ và cái bẫy đi thì hiện trường cũng không có dấu chân nào.
– Không có bẫy gì cả, chẳng qua là cắm một cây kim vào trong đệm hương bồ như quý nhân đã nói vậy thôi.
Chu Kỳ nhìn Tạ Dung, ánh mắt như đang nói: “Được rồi, anh thắng rồi đó”.
Tạ Dung nhìn nàng trìu mến như đang an ủi, sau đó nói tiếp:
– Còn về cuộc tranh chấp giữa Thanh Nhân và Thanh Đức trên đàn tế, với tính cách của Thanh Nhân đạo trưởng, việc ông ta viết một mảnh giấy hẹn sư đệ đến đàn tế gặp mặt đúng là quá kỳ lạ, huống hồ còn mang theo một con rắn độc đã bị lấy nọc rồi để nó nằm im trên đàn tế như vậy?
– Tôi đoán mảnh giấy nhét ở khe cửa phòng Thanh Đức đạo trưởng là do lang quân viết. Lang quân giỏi thư pháp, giả mạo nét chữ của người khác hẳn là dễ như trở bàn tay. Lang quân nhét mảnh giấy giả vào cửa phòng Thanh Đức rồi đích thân đi tìm Thanh Nhân. Lang quân biết rõ buổi chiều sau khi Thanh Nhân uống thuốc, các đệ tử của ông ta đều không có mặt ở đó, hoặc có thể quy định ấy được đặt ra là vì lang quân cũng nên. Lang quân đã nói gì với Thanh Nhân thì tôi không dám đoán bừa, chỉ biết là Thanh Nhân đã bị thuyết phục nên đúng giờ Dậu đã đến đàn tế gặp Thanh Đức.
Tạ Dung nói tiếp:
– Từ lang quân đã bắt một con rắn khác đặt sẵn trên đàn tế. Lúc đó trời đã sâm sẩm tối, Thanh Đức chỉ loáng thoáng thấy rắn trườn thì tưởng nó là con rắn chúa vằn hoa. Sau đó, ông ta bắn mũi tên giấu trong tay áo ra theo bản năng, g**t ch*t Thanh Nhân. Tôi chỉ không rõ là Từ lang quân làm sao mà điều khiển con rắn động đậy đúng lúc như thế?
Đào Tuy nói:
– Con rắn đó vừa mới được cho ăn thịt chuột nên lười di chuyển. Trên người Thanh Nhân lại có mùi của rắn chúa cực độc nên hắn đi đến đâu là rắn rết, côn trùng đều vội tránh xa.
Thì ra con rắn đó không phải muốn tấn công Thanh Đức mà định chạy trốn, bảo sao đám đệ tử của Thanh Đức không tìm được nó.
Tạ Dung gật đầu:
– Tôi đã hiểu rồi.
Hẳn là chuyện rắn rết, côn trùng đều tránh xa là do Thanh Nhân tự nói cho Đào Tuy biết.
– Lúc đó, có lẽ Từ lang quân đã nấp ở đâu đó để theo dõi chăng? Thấy người chết là Thanh Nhân, anh ấy lập tức trở về đạo quán, mai phục gần nơi ở của Thanh Nhân, chờ các đệ tử ra ngoài tìm kiếm thì lẻn vào bắt con rắn chúa vằn hoa kia đi. Đệ tử của Thanh Nhân không nuôi rắn, cũng không để ý tới con rắn kia, nên không biết con rắn đó biến mất từ bao giờ. – Tạ Dung nói. – Nếu người chết là Thanh Đức, chắc chắn các anh đã có sẵn một phương án dự phòng khác. Các đệ tử của Thanh Đức đều biết gã đến đàn tế gặp Thanh Nhân, cộng thêm có vết rắn trườn trên đàn tế nữa, tất cả đều là bằng chứng không thể chối cãi. Thế nên đây vốn là một ván cờ chết.
Đào Tuy lạnh lùng hừ một tiếng:
– Có điều tôi không ngờ Thanh Đức cũng chết vì thứ thuốc đó. Đúng như lời của Thôi lang quân nói, âu cũng là số trời báo ứng mà thôi, quả báo chẳng sai bao giờ.
Đào Tuy nhìn Tạ Dung, nói:
– Quý nhân suy đoán chính xác cứ như tận mắt nhìn thấy vậy. Có điều, chắc quý nhân không tưởng tượng nổi năm xưa lũ ác ôn khoác da đạo sĩ này đã làm ra chuyện tàn độc tày trời thế nào đâu.
– Chi nhánh họ Đồ chúng tôi đến từ Hoài Bắc, đã an cư lạc nghiệp ở đây gần trăm năm rồi. Mặc dù không phải là gia tộc đông con nhiều cháu, nhưng già trẻ lớn bé cũng ngót trăm người. Thế mà chỉ sau một đêm, tất cả đều bị bọn đạo sĩ ác ôn đó giết sạch. Chỉ còn đám người lớn bé chúng tôi vì lúc ấy không ở nhà mới may mắn thoát chết. Lúc chúng tôi trở về, nhà cửa đã thành một đống tro tàn. Một người bác trong tộc bị thương nặng chạy trốn vào rừng sâu. Lúc chúng tôi tìm được thì bác ấy đã hấp hối, chỉ kịp trăng trối mấy chữ “đạo sĩ hại người” rồi trút hơi thở cuối cùng, trong tay bác ấy vẫn nắm chặt một mảnh áo đạo sĩ dính đầy máu tươi.
– Nhà Nhị Lang chỉ còn mẹ em ấy và em ấy, còn nhà tôi chỉ còn chú tôi và tôi. Chú tôi đã giao tôi cho cha mẹ nuôi rồi đi cáo trạng. Tên Huyện Lệnh huyện Chiêu Ứng kia được lũ đạo sĩ đút lót nên đã đánh đuổi chú tôi đi. Ngày hôm sau, chú tôi bỗng dưng chết trong nhà. Mối thù máu thịt sâu nặng như thế, sao chúng tôi không thể báo thù chứ?
Tạ Dung nhớ tới vết thương trên cánh tay của Thanh Nhân. Ông ta từng nói đó do giặc cướp chém phải khi xây đạo quán. Bây giờ ngẫm lại “giặc cướp” kia có lẽ chính là người của tộc Đồ. Đối mặt với kẻ thù giết cả gia tộc, Đào Tuy lại sẵn lòng hy sinh, dùng bản thân làm mồi để dụ dỗ…
Một lát sau, Tạ Dung khẽ hỏi:
– Những đạo sĩ này có mưu đồ gì? Chỉ vì miếng đất có phong thuỷ quý giá này thôi sao?
– Có lẽ là vậy. Tôi đã thử hỏi dò nhưng Thanh Nhân chẳng nói gì cả. Hoặc là hắn đề phòng tôi, hoặc là hắn không biết, dù sao thì năm đó người quyết định mọi chuyện là Huyền Dương.
Pho tượng thần và đàn tế bằng gỗ bị sét đánh trong buồng ngủ của Huyền Dương là để trấn áp những oan hồn này chăng? Giết biết bao sinh mạng như vậy chỉ vì mỗi điều ấy thôi sao?
Tạ Dung gật đầu, tiếp lời:
– Đúng vậy, có lẽ chỉ có Huyền Dương mới biết rõ sự thật là gì…
Tạ Dung lại hỏi:
– Sáng nay ở bên hồ, lang quân với Từ lang quân đã cãi nhau chuyện gì vậy?
Đào Tuy lắc đầu đáp:
– Chúng tôi không hề cãi nhau, chỉ nói về những dự định sau này mà thôi.
Từ Nhị Lang lạnh lùng lên tiếng:
– Tôi muốn đốt trụi đạo quán, thiêu chết được bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu. Nhưng anh ấy mềm lòng, không chịu làm!
Đào Tuy nhìn Từ Nhị Lang, bình thản nói:
– Nhị Lang, chú có nói vậy thì anh cũng không thể thoát tội được đâu.
– Vậy anh cần gì phải che giấu giúp em?
Đào Tuy chẳng nói gì nữa.
…
Sau một hồi thẩm vấn dài đằng đẵng, lúc hỏi xong thì đã quá giờ Tý* rồi. Mấy người Tạ Dung áp giải Đào Tuy và Từ Nhị Lang về đạo quán, còn những vật chứng như lưu huỳnh, nhựa thông đã chôn ở ngoài hang núi thì đành để ngày mai mới lấy về.
*Giờ Tý: 23 giờ đến 1 giờ sáng.
Chu Kỳ lười biếng vươn vai, nói:
– Mệt mỏi thật, tìm mãi mới ra cái hang núi giấu đồ chết tiệt này, đã vậy còn đánh một trận với Từ Nhị Lang nữa.
Thôi Dập hỏi:
– À suýt nữa thì quên hỏi. Anh Tạ, sao anh biết bọn họ giấu mấy thứ như dầu, lưu huỳnh, nhựa thông này trong hang núi thế?
Chu Kỳ giải thích cho Thôi Dập:
– Tạ Thiếu khanh nói hồi sáng thấy giày của Từ Nhị Lang dính một vệt dầu rõ to, mà trước đó thì không hề có. Sau đó, anh ấy nhớ tới ngôi đền thờ cáo trong truyền thuyết bị thiêu rụi kia nữa. Nếu như có thù oán thật, làm sao họ để cho Huyền Dương được chôn cất yên ổn chứ? Khả năng cao là họ sẽ chọn đêm nay để phóng lửa đốt đạo quán.
Thôi Dập nhìn vào gáy Tạ Dung đang đứng đằng trước:
– Chỉ một vệt dầu thôi… mà nghĩ ra được lắm chuyện dữ vậy hả?
Thôi Dập không bỏ qua bất cứ cơ hội trêu đùa nào, nói ngay:
– A Chu à, cô làm hàng xóm với anh Tạ thì phải cẩn thận đấy nhé, biết đâu bị chịu thiệt lúc nào chẳng hay. Anh ấy tinh ranh ghê lắm.
Chu Kỳ bỗng ngượng ngùng gãi gãi tai, thầm nghĩ: “Những nàng mỹ nhân trong tiểu thuyết dẫu có thông minh tuyệt đỉnh thì vẫn khổ vì gặp mấy tay chồng tệ bạc đấy thôi… Thế mới thấy trí thông minh chả liên quan gì đến chuyện được lợi hay chịu thiệt cả”. Cứ mải miên man nghĩ về chuyện “được lợi”, tâm trí của Chu Kỳ bắt đầu lệch lạc. Trước khi nó “lệch” quá xa, Chu Kỳ đã vội vàng kéo suy nghĩ trở lại cho “đúng” rồi bắt đầu lẩm nhẩm niệm kinh.
– Hiển Minh, tôi nghe nói bây giờ Trưởng công chúa chọn vợ cho anh chỉ cần là nữ và còn sống là được, phải không?
Một giọng nói hờ hững từ phía trước vọng lại.
– Đâu có! Đời nào! Không có chắc luôn!
Nghe Thôi Dập chối leo lẻo một lèo, Chu Kỳ không niệm kinh nữa mà chuyên tâm hợp sức với mọi người trêu ghẹo Thôi Dập.
– Hết chương 93 –

