Trong phòng của nạn nhân An Phủ Điền.
Thi thể của An Phủ Điền nằm cách giường ngủ khoảng bốn đến năm bước chân, mũi chân hướng ra ngoài. Tuy lượng máu chảy ra không nhiều lắm nhưng vẫn thấy một vệt máu bị kéo lê từ trên giường đến chỗ nạn nhân nằm. Bên dưới thi thể nạn nhân có một vũng máu đọng, xung quanh lại không có vết máu bắn nào.
Bên cạnh thi thể có bốn dấu chân dính máu: hai dấu rõ nét và hai dấu mờ mờ. Cách đó chừng hai bước chân còn có hai dấu chân khác mờ hơn. Nhìn theo hướng mũi chân, Chu Kỳ thấy một chiếc rương bị cạy nắp, đồ đạc bên trong đều bị lục lọi lung tung.
Thi thể của Bộc thị, vợ của An Phủ Điền, nằm trên giường. Trên cổ có một vết thương trí mạng do vật sắc bén gây ra. Áo trong đã bị xé rách. Trên cánh tay trần hiện rõ một vết bầm tím do bị nắm chặt.
Bức rèm đầu giường có hai vệt máu bắn tung toé, hai chiếc gối và tấm đệm giường thì thấm đẫm máu tươi.
Lúc Tạ Dung, Thôi Dập và Ngô Hoài Nhân khám nghiệm tử thi của An Phủ Điền, Chu Kỳ ngồi xuống xem xét mấy dấu chân gần đó.
Tất cả dấu chân đều có cùng kích thước và hình dạng, rõ ràng chúng là của một người. Lấy bản vẽ dấu chân của vụ án ở phường Sùng Hoá trong ngực áo ra so sánh, Chu Kỳ thấy tất cả hoàn toàn khớp với nhau. Các dấu chân này dài khoảng thước mốt đến thước hai, rộng chừng năm tấc. Căn cứ vào đó, kẻ này phải cao từ bảy thước rưỡi đến tám thước. Đúng là một “gã đàn ông tám thước” chính hiệu.
Chu Kỳ xem kỹ hai dấu chân rõ nét nhất. Đường vân ở mép mũi giày trái, mũi giày phải và gót giày phải thì mờ nhạt không đều; còn ở phần gót giày trái lại khá nhỏ và liền mạch.
Chu Kỳ chỉ vào dấu vết ở gót chiếc giày bên trái:
– Đây là dấu hằn của sợi gai bện dưới đế giày hả? Nhưng nhìn vào mép giày đã bị mòn đến như thế thì đây chắc chắn không phải là giày mới rồi…
Đối với loại giày vải đế khâu nhiều lớp này, khi còn mới sẽ thấy rõ dấu vết của sợi gai bện dưới đế. Nhưng khi đã mang lâu ngày, giày cũ đi, lớp vải dưới đế mòn dần, các sợi gai cũng bị mài mỏng và lún sâu vào trong, thì không còn nhìn rõ dấu vết nữa.
Tạ Dung đi tới rồi ngồi xổm xuống quan sát thật kỹ:
– Người này bị thọt chăng?
Chu Kỳ gật đầu. Chỉ có hắn bị thọt chân trái, gót chân giẫm xuống không vững thì mới để lại dấu chân như thế này.
Thôi Dập chép miệng nói:
– Một tên cướp bị thọt à… A Chu, cô đoán chuẩn thật. Một gã thọt đời nào bật nhảy một cái là vọt thẳng lên bức tường cao như thế được.
Chu Kỳ khẽ gật đầu, đứng dậy cùng mấy người Tạ Dung xem xét thi thể của An Phủ Điền. Vẻ ngoài của chàng trai này quả thật vô cùng thê thảm. Gương mặt bị chém ba vết đao: một vết từ thái dương trái đến hàm phải, một vết từ thái dương phải xuống hàm trái và một vết chém ngang ngay dưới mắt từ trái sang phải. Ba nhát chém đan xen này khiến chiếc mũi bị cắt thành nhiều mảnh. Phần má bên trái của nạn nhân còn có một vết chém dọc, suýt xẻo đứt cả tai. Thân thể nạn nhân chằng chịt vết chém và ngực bụng còn có ba bốn vết đâm nữa.
Ngô Hoài Nhân nói:
– Dựa vào vết máu b*n r* dính ở đầu giường và vệt máu kéo lê này, nạn nhân hẳn là bị giết trên giường rồi mới bị kéo đến đây. Lượng máu trên đệm chăn giữa giường không nhiều lắm. Những vết đâm chém trên người nạn nhân đều do hung thủ ra tay sau khi kéo thi thể đến đây.
– Trừ vết thương này ra.
Tạ Dung chỉ vào vết thương ở mặt trong cánh tay phải của An Phủ Điền.
Ngô Hoài Nhân đáp:
– Đúng vậy. Nếu hung thủ chém nạn nhân để trút giận, vết thương không thể nằm ở mặt trong cánh tay như vậy. Đây có lẽ là vết thương tự vệ.
Chu Kỳ giơ tay phải lên làm động tác chống đỡ, dùng tay trái làm đao chém thử một nhát, thầm nghĩ: “Vậy là An Phủ Điền đang ngủ thì choàng tỉnh, thấy có lưỡi đao chém tới bèn theo phản xạ giơ tay lên đỡ lại. Thế nhưng, anh ta không đỡ được, cuối cùng vẫn bị chém vào cổ.”
Thôi Dập đấm tay vào lòng bàn tay, nói:
– Tôi hiểu rồi! Hung thủ căm hận đám văn sĩ trung niên độ bốn mươi tuổi nhưng đối với lang quân trẻ tuổi lại chẳng thù hận sâu nặng đến thế. Mặc dù trong vụ án của Hồ Bá Lộc ở phường Sùng Hoá trước đây không có lang quân trẻ tuổi nào bị giết, nhưng trong các vụ án ở phường Phong An và phường Tĩnh An mười năm trước, Tiêu Trường Bình mười bảy tuổi và Doãn Hữu Hằng mười lăm tuổi đều bị một nhát đao chém chết, trên người không có vết thương nào khác. Tại sao An Phủ Điền này lại bị thương nặng như thế? Đó là vì anh ta đột ngột tỉnh dậy và chống cự. Trước đây tôi cứ nghĩ là do An Phủ Điền lớn tuổi hơn và đã kết hôn rồi cơ.
– Chỉ vì chống cự chút xíu như vậy mà hung thủ đã lôi anh ta xuống đất rồi đâm chém tới tấp như thế để trút giận ư? – Chu Kỳ cau mày. – Như vậy chẳng phải quá… điên cuồng hay sao?
Thôi Dập đáp:
– Kẻ giết người chẳng ghê tay như thế tất nhiên là điên cuồng rồi.
Chu Kỳ không nói gì thêm.
Nhìn mặt của An Phủ Điền, Tạ Dung đột nhiên lắc đầu:
– A Kỳ nói có lý lắm, chắc là còn nguyên do nào khác nữa.
Ngô Hoài Nhân chợt ngước lên nhìn Tạ Dung rồi nhìn sang Chu Kỳ. Trong tình huống thế này mà chú vẫn để ý được Tạ Thiếu khanh gọi Chu Tướng quân là “A Kỳ”. Chú thầm nghĩ: “Gọi nhau thân mật như thế… quả nhiên, quả nhiên mà!”
Tạ Dung nói:
– Có lẽ hung thủ làm vậy là để che giấu điều gì đó. Thi thể Bộc thị không có dấu vết bị trói hay bịt miệng, trên cánh tay có vết bầm tím do bị nắm chặt. Chị ta đã bị cưỡng h**p trước rồi mới bị giết. Nếu kẻ giết An Phủ Điền và Bộc thị là cùng một người, thì hắn hẳn phải giết An Phủ Điền trước, sau đó cưỡng h**p rồi giết Bộc thị, cuối cùng mới kéo xác An Phủ Điền xuống đất đâm chém. Hắn không thể nào giết An Phủ Điền, kéo xác xuống đâm chém xong rồi mới quay lại cưỡng h**p và giết Bộc thị. Lượng máu dưới đất không nhiều lắm cũng là một bằng chứng cho giả thiết này. Bởi vì khi ấy An Phủ Điền đã chết được một lúc, máu trong cơ thể đã đông lại, nên có bị đâm chém bao nhiêu nhát cũng không chảy ra nhiều nữa.
Thôi Dập hỏi:
– Ừ đấy, mà thế thì sao chứ?
Chu Kỳ giải thích:
– Ý của Tạ Thiếu khanh là hung thủ giết An Phủ Điền trước rồi quay sang cưỡng h**p và giết Bộc thị. Cơn tức giận của hắn khi bị nạn nhân chống cự đáng lẽ đã nguôi ngoai phần nào rồi, theo lý thì không nên đâm chém thi thể để trút giận nữa.
Thôi Dập ngẫm nghĩ: “Cũng phải, nhất là trước đó hung thủ còn xâm hại thi thể nạn nhân nữa, tâm lý của hắn chắc là…”
Để ý thấy Chu Tướng quân gọi là “Tạ Thiếu khanh”, Ngô Hoài Nhân thầm nghĩ: “Thiếu khanh còn phải cố gắng nhiều hơn mới được…”
– Mọi người có cảm thấy mấy vết chém hình bông tuyết trên mặt An Phủ Điền và vết chém có nông có sâu ngang dọc trên người anh ta trông cứ như cố ý không? Quan trọng là, với một nhát đao nhanh như thế, điều gì đã khiến cho vết chém trên má trái của nạn nhân lại ngắn và nông đến thế? Vành tai cũng chưa bị chém đứt hẳn… mà đấy còn là tai trái nữa.
Chu Kỳ bỗng bừng tỉnh:
– Binh sĩ hả?
Thôi Dập và Ngô Hoài Nhân cũng hiểu ra:
– Cắt tai trái để tính quân công!
Tạ Dung gật đầu:
– Mặc dù bị An Phủ Điền chống cự nhưng hung thủ vẫn giết được anh ta. Giết xong, hung thủ thuận tay cắt tai trái của người chết theo thói quen cũ. Tuy nhiên, khi vừa ra tay, hắn đột nhiên nhận ra sai lầm và dừng lại. Sau khi cưỡng h**p và giết Bộc thị, hắn chợt nhớ tới sơ hở này nên đã cố ý che giấu bằng cách kéo An Phủ Điền xuống đất rồi đâm chém mặt mũi, thân thể của anh ta nhằm che đi vết cắt trên tai.
Nếu tên thọt này là binh sĩ, thì đồng bọn của hắn, kẻ sát nhân đã giết An Thiện Lai và khoét mắt Vu thị trong phòng khách, đồng thời là hung thủ của hàng loạt vụ án giết người mười năm trước, hẳn cũng là binh sĩ.
Chu Kỳ nói:
– Vậy là mọi chuyện đã rõ rồi. Điều này giải thích vì sao nạn nhân trong các vụ án cũ mười năm trước đều là người Đại Đường, còn nạn nhân trong hai vụ án này lại là người Hồi Hột và người Thổ Phiên… Cũng giải thích được lý do vì sao suốt mười năm qua hung thủ không gây án ở Trường An nữa. Đó là vì hắn phải đi chiến đấu với người Hồ, mãi dạo gần đây mới quay về.
Thôi Dập tiếp lời:
– Là binh sĩ của Tống Đại tướng quân!
Chu Kỳ gật đầu. Hung thủ hẳn là một trong số những binh sĩ mà vị Tống Đại tướng quân, người dạo trước vừa được thăng quan và cưới vợ kế, đã đưa về kinh. Như vậy hung thủ trở về đã hơn một tháng rồi, thời gian cũng hoàn toàn trùng khớp.
Mặc dù Tống Đại tướng quân mới đến Tây Bắc sáu năm trước, nhưng đội quân Chinh Tây đã có từ hàng chục năm rồi. Binh sĩ quân Chinh Tây có cả mới lẫn cũ, cứ cách ba đến năm năm lại có một đợt tuyển binh từ các nơi điều đến. Vậy nếu hung thủ gia nhập quân đội từ mười năm trước, thì việc hắn quay về Trường An vào lúc này là hoàn toàn có thể!
Phủ Kinh Triệu đều có ghi chép về việc tuyển binh ở kinh thành và các vùng lân cận. Thôi Dập bèn cho người tức tốc phi ngựa về tra cứu. Tuy không phải là binh lính chính quy, nhưng Chu Kỳ cũng thuộc Cấm Quân nên khá am hiểu việc trong quân. Nàng nói:
– Trong quân đội, bộ binh thường tác chiến theo đội hình nhỏ. Trong một đội, có người dùng đao, có người vác khiên, có người cầm giáo, và có cả những người chuyên cắt tai kẻ địch. Số tai cắt được sẽ tính là quân công chung cho cả đội. Binh lính Tống Đại tướng quân đưa về lần này không nhiều lắm. Muốn tìm một kẻ bị thọt từng chuyên đi cắt tai thì chắc không khó.
Thế nhưng ai mới là kẻ chủ mưu?
Phải tìm ra kẻ bị thọt này trước rồi hẵng hay.
Chẳng bao lâu sau, Tư binh tham quân của phủ Kinh Triệu đến bẩm báo. Mặc dù mười năm trước không có đợt tuyển binh quy mô lớn nào tại kinh thành, nhưng khi ấy, lúc Liêu Xương Đại tướng quân dẫn quân về phía Tây, ngài đã từng chiêu mộ một ngàn người ở kinh thành và các vùng lân cận để áp tải đồ khao quân và quân nhu.
– Hết chương 113 –

