Tạ Dung dùng kiếm còn Chu Kỳ dùng đao. Kiếm pháp của Tạ Dung tuy chưa đến mức lão luyện nhưng lại rất vững chãi, điềm tĩnh, luôn đoán trước được đường đi đối thủ và mang phong thái của một bậc đại tướng. Trong khi đó, đao pháp của Chu Kỳ lại bá đạo và pha đôi chút vẻ chợ búa lưu manh, vừa lì lợm vừa ngang tàng. Một mình Chu Kỳ đã đủ sức áp đảo Bạch Kính Nguyên, huống hồ còn có thêm Tạ Dung. Hai người một đao một kiếm phối hợp ăn ý, đánh cho Bạch Kính Nguyên luống cuống chống đỡ, không có sức đánh trả.
Nhìn bọn họ kề vai chiến đấu ăn ý như vậy, Thôi Dập thấy hâm mộ không thôi, thầm nghĩ: “Nếu mình về chăm chỉ luyện tập quyển đao pháp A Chu đưa cho, chắc chỉ vài năm nữa cũng có thể kề vai chiến đấu với bọn họ nhỉ? Chuyện này mà viết thành tiểu thuyết thì hẳn sẽ có tên là ‘Ba vị anh hùng bắt giặc’…”
Nghĩ thế, Thôi Dập lại thầm trách Chu Kỳ: “Cô ấy chắc chắn đã biết từ lâu rồi mà còn che giấu giùm anh Tạ. Chuyện hôm nay phải bắt anh chàng đãi năm chầu, à không, mười chầu sườn cừu nướng mới được! Ăn xong phải đánh bài dán giấy đầy mặt A Chu nữa. Có làm thế thì mới hơi hả được! Lúc đó phải rủ A Đồng đi cùng…”
Thôi Dập mới ngẩn ra suy nghĩ một chốc, Chu Kỳ đã gí sát lưỡi đao vào cổ Bạch Kính Nguyên. Bọn sai nha tức khắc ập tới trói gô hắn lại.
Thôi Dập bước tới, cười chẳng ra cười liếc Tạ Dung rồi nhìn sang Chu Kỳ “hừ” một tiếng, chắp tay sau lưng quay gót bỏ đi.
Chu Kỳ ở phía sau nhỏ giọng nói:
– Không có năm chầu thịt nướng thì đừng hòng xong chuyện này nhé.
Tạ Dung nhìn sau gáy Thôi Dập, cũng khẽ cười đáp lại:
– E là năm chầu không đủ đâu.
Sau khi bắt được Trì Nhị Lang và Bạch Kính Nguyên, đám sai nha còn phát hiện ra tang vật trong nhà. Ngoài tiền mặt ra, còn có một vài món trang sức của nữ, cùng với các món vàng bạc, ngọc ngà, đồ cổ như ngựa bay bằng ngọc, bầu rượu bạc, đồng tiền vàng kiểu người Hồ. Thảy đều được gói trong hai chiếc áo choàng dài kiểu người Hồ, một trong hai chiếc áo có dính vết máu mờ nhạt. Dựa vào độ dài và kích thước, hai chiếc áo không thể nào là của Trì Nhị Lang.
Đám sai nha tuy không tìm ra đôi giày dính máu nhưng lại tìm được những đôi giày khác của Trì Nhị Lang. Cỡ giày hoàn toàn khớp với dấu chân dính máu, quan trọng nhất là gót giày bên trái gần như không bị mòn.
Tạ Dung, Thôi Dập và Chu Kỳ áp giải nghi phạm về Đại Lý Tự. Vương Tự khanh đích thân thăng đường thẩm vấn. Người bị xét hỏi đầu tiên là Trì Nhị Lang, kẻ có chứng cứ rõ ràng nhất.
Trì Nhị Lang cũng chẳng phải tay vừa. Hắn dứt khoát nhận tội:
– Đúng vậy, lũ người Hồ đó là do tôi giết. Giết vài tên thì có gì sai đâu? Bọn chúng đã giết bao nhiêu người Đại Đường bên ta chứ? Dựa vào đâu mà chúng vẫn được ăn ngon mặc đẹp, kẻ hầu người hạ, an nhàn phú quý ở Trường An này, còn bọn tôi phải sống trong cảnh nghèo hèn, đầu rơi máu chảy, tay cụt chân què chứ? Dựa vào đâu chứ?
Vương Tự khanh không cãi đúng sai với gã:
– Nói xem bọn bây gây án thế nào đi, nói vụ án ở phường Sùng Hoá đi.
Trì Nhị Lang thở hắt ra một hơi, nghĩ một lát rồi nói:
– Trước đó mấy hôm, tôi đi dò la tình hình trước. Tối đến, tôi nấp trong một ngôi nhà hoang ở phường Sùng Hoá, đợi đến canh ba* thì trèo tường vào nhà gã người Hồ. Đầu tiên, tôi vào nhà chính giết vợ chồng gã lái buôn, sau đó xuống nhà dưới giết sạch đám tôi tớ và hầu gái. Tiếp đến, tôi ra sân sau, thấy hai cô con gái của gã người Hồ trắng trẻo như cừu non, tôi bèn hãm h**p rồi cắt cổ cả hai đứa. Các vị quý nhân cũng đừng thương xót chúng mà chi. Ở biên ải, hễ chiến sự bùng lên, đàn bà con gái bên ta mà rơi vào tay lũ người Hồ đó thì cũng chịu cảnh tương tự vậy thôi. Giết xong hai đứa con gái, tôi quay vào nhà chính vơ vét của cải rồi về lại ngôi nhà hoang ẩn nấp. Chờ đến khi cổng phường mở, tôi cứ thế đường hoàng ra về thôi.
*Canh ba: Từ 23 giờ đêm đến 1 giờ sáng.
– Vậy vụ án phường Trường Thọ thì sao?
Về vụ án phường Trường Thọ, Trì Nhị Lang kể lại cũng tương tự vụ án phường Sùng Hoá, chỉ thêm chi tiết giết An Phủ Điền:
– Tôi vừa giơ dao lên định cắt cổ hắn thì không ngờ hắn lại choàng tỉnh, đưa tay lên đỡ, còn duỗi tay trái ra định chộp lấy tôi. Hắn mà đỡ được dao của tôi chắc? Tôi xử gọn hắn rồi h**p luôn vợ hắn. Vì hắn đã đỡ mấy nhát chém nên tôi quen tay cắt tai hắn theo thói quen hồi đánh trận. Vừa ra tay thì tôi mới giật mình nhận ra. Xong việc với vợ hắn, nghĩ đến chuyện cắt tai tôi lại sợ các ngài sẽ lần ra manh mối, bèn kéo thằng giặc Hồ đó xuống giường, chém loạn xạ mấy nhát rồi rạch nát mặt hắn. Ai ngờ vẫn bị các ngài tóm được…
Chờ gã nói xong, Vương Tự khanh hỏi:
– Ý của ngươi là hai vụ án mạng này đều do một mình ngươi gây ra?
– Phải, một mình tôi làm! Các vị đừng thấy Bạch Ngũ bỏ chạy, cậu ta nhát gan lắm, chuyện này hoàn toàn không liên quan gì đến cậu ta đâu.
– Vậy vì sao ngươi lại làm nhục thi thể của gã lái buôn người Hồ đó?
Trì Nhị Lang sững ra một thoáng, đáp:
– Vì ghét hắn. Tôi ghét nhất cái loại đạo mạo giả nhân giả nghĩa đó.
– Thế còn vợ gã thì sao? Vì sao ngươi lại khoét mắt của bà ấy?
Trì Nhị Lang gân cổ lên nói:
– Chân tôi bị thọt, cái ả đàn bà đó cứ nhìn lén tôi, tôi chỉ muốn móc hết mắt của ả ra thôi!
– Vậy còn vụ án ở phường Bình Khang thì sao? Mấy vụ án cũ từ mười năm trước nữa? Nạn nhân trong các vụ án đó đâu phải người Hồ, vả lại mười năm trước thì chân ngươi vẫn còn lành lặn kia mà!
Trì Nhị Lang bỗng chốc nghẹn lời, một lúc lâu sau mới nói:
– Dù sao cũng là bọn đáng chết, giết thì giết thôi.
Bất kể Vương Tự khanh gặng hỏi thế nào Trì Nhị Lang cũng đều khăng khăng nhận hết tội về mình. Khi bị hỏi về vụ án của phường Bình Khang và vụ án cũ mười năm trước, gã đều lấy cớ là đã quá lâu nên không nhớ rõ nữa. Vương Tự khanh xua tay ra hiệu cho người giải Trì Nhị Lang xuống.
Về Bạch Kính Nguyên, ban đầu đó chỉ là suy đoán của Chu Kỳ, ngoài việc hắn có tật giật mình mà bỏ chạy ra thì không có bằng chứng nào xác thực cả. Đám sai nha được phái đến nhà Bạch Kính Nguyên ở phường Bảo Ninh đã trở về báo rằng không tìm thấy chứng cứ gì, nhưng lại dẫn cha của Bạch Kính Nguyên và Lý trưởng của phường Bảo Ninh về cùng.
Cha của Bạch Kính Nguyên có vẻ đã từng bị trúng gió, miệng hơi méo, tay chân cử động chậm chạp, người cứ run lẩy bẩy nên không tài nào tra hỏi cặn kẽ được.
Lý trưởng phường Bảo Ninh có vẻ khá rành chuyện của nhà họ Bạch, kể chuyện đâu ra đấy:
– Nhà cậu Bạch Kính Nguyên ấy có cha mẹ già, còn có một người chị đã lấy chồng ở phường Thăng Đạo. Mười năm trước… kể ra thì cậu ta cũng xui xẻo. Hồi đó, cha mẹ cậu ta cưới cho cậu ta một cô vợ ở bên phường Thường An, huyện Trường An. Cô ta trông điềm đạm, hiền lành lắm. Cưới về chưa được bao lâu thì cô ta đã có thai.
– Nào ngờ, đứa bé đó không phải là con của Bạch Kính Nguyên. Hoá ra vợ cậu ta đã tằng tịu với một gã thư sinh hàng xóm nhà mẹ đẻ từ trước rồi. Gã thư sinh đó đã có vợ con nên không thể cưới cô ta được. Tuy vậy cô ta vẫn hay kiếm cớ về nhà thăm cha mẹ ruột để hẹn hò với gã thư sinh kia. Thế là có hôm bị người ta bắt gặp rồi vỡ lở ra, ai cũng biết chuyện này cả.
– Gã thư sinh kia đã mất hết cả sĩ diện đã đành, lại còn khiến cô vợ kia sợ đến mức sảy thai luôn. Bấy giờ Bạch Kính Nguyên còn trẻ, tính tình nóng nảy, sao mà chịu nhịn nổi? Mặc cho cha mẹ khuyên can, cậu ta vẫn nhất quyết bỏ vợ. Hồi đó chuyện ấy làm ầm ĩ lắm, tôi và Lý trưởng phường Thường An đứng ra hoà giải nên mới hiểu rành rẽ thế này.
– Bỏ thì cũng bỏ rồi đấy nhưng suy cho cùng đàn ông con trai mà mang tiếng “đổ vỏ” thì cũng chẳng hay ho gì. Vừa hay lúc ấy có đợt tuyển binh, thế là cậu ta đi tòng quân luôn. Nghe nói đợt này cậu ta về, mẹ cậu ta lại luống cuống tìm vợ cho cậu ta đấy ạ, nhưng mà cũng khó lắm. Bởi vì cậu ta vẫn còn tại ngũ, chẳng biết lúc nào lại phải ra biên ải, mà gia đình cũng chả giàu sang phú quý hay quyền cao chức trọng gì cho cam. Có nhà ai lại muốn gả con gái cho cậu ta rồi phải chịu cảnh phòng không gối chiếc cơ chứ?
Lý trưởng phường Bảo Ninh đang kể lại những câu chuyện trong nhà ngoài ngõ suốt mười năm qua về gia đình Bạch Kính Nguyên cho Vương Tự khanh và Tạ Dung nghe. Nghe vậy, Vương Tự khanh chợt hỏi:
– Lý trưởng có nhớ chuyện vợ cậu ta tằng tịu với người khác vỡ lở ra là khi nào không?
– Chắc là vào mùa gặt lúa mì ạ. Cũng vì chuyện nhà cậu ta mà mấy mẫu ruộng của nhà tôi ngoài thành tới vụ thu hoạch mà tôi chẳng ra đó coi ngó được.
Vương Tự khanh gật đầu:
– Gã thư sinh đó tên gì? Bao nhiêu tuổi rồi?
– Hình như tên là Liễu Quảng Chí, chắc giờ cũng bốn mươi tư bốn mươi lăm rồi. Gã trông trắng trẻo, tuấn tú, lại có đôi mắt biết cười, có vẻ hiền lành, nho nhã lắm. Mấy hôm trước tôi mới gặp gã chứ đâu, trông gã vẫn như mười năm trước chứ chẳng già đi chút nào. Có điều đến giờ vẫn mãi chưa thi đỗ.
Cho vị Lý trưởng lui xuống, Vương Tự khanh nói:
– Thời gian thì khớp rồi đấy. Vụ án đầu tiên của mười năm trước xảy ra vào tháng Bảy, chỉ có điều…
Tạ Dung khẽ nhíu mày, Chu Kỳ xoa xoa cằm, Thôi Dập chờ Vương Tự khanh nói tiếp. Vương Tự khanh lắc đầu:
– Cứ thẩm vấn trước đã.
Nào ngờ việc thẩm vấn Bạch Kính Nguyên lại dễ hơn dự tính. Vương Tự khanh giả bộ là Trì Nhị Lang đã khai ra hắn, rồi hỏi Bạch Kính Nguyên có phải vì chuyện vợ hắn ngoại tình mà hắn đổi tính đổi nết, gây ra vụ án diệt môn liên hoàn này không.
Bạch Kính Nguyên im lặng một lúc rồi lên tiếng:
– Đúng vậy, là do tôi làm. Vì ả đàn bà đó tằng tịu với thằng khác khiến tôi bị mang tiếng “đổ vỏ”, bị người ta cười nhạo nên tôi mới gây ra những vụ án ấy, giết sạch lũ thư sinh trăng hoa, móc mắt lũ đàn bà có mắt không tròng cho hả giận.
– Nói cho tỉ mỉ, bắt đầu từ vụ án đầu tiên cách đây mười năm đi.
Bạch Kính Nguyên nhìn Vương Tự khanh rồi cụp mắt xuống, đáp:
– Chuyện này thì có gì đáng nói đâu? Quanh đi quẩn lại cũng chỉ là giết người, hãm h**p thi thể rồi móc mắt mà thôi. Giết người thì đền mạng, quý nhân cứ việc định tội là xong.
Vương Tự khanh gặng hỏi tiếp nhưng Bạch Kính Nguyên vẫn nhất quyết im lặng. Lão ông bèn cho người dẫn Bạch Kính Nguyên lui xuống rồi nhìn sang Tạ Dung. Tạ Dung gật đầu nói:
– Đúng như ông đã suy đoán, chủ mưu của vụ án này e rằng là một kẻ khác.
– Hết chương 115 –

