Kinh Hoa Trú Dạ - Bánh Anh Đào

Chương 14: Nhà ma ám (14)




Nội dung chương đang bị khóa. Vui lòng mở lại quảng cáo
để tiếp tục ủng hộ dịch giả và đọc Chương 14 miễn phí!

Giá sách dịch chuyển để lộ ra một lối vào có bậc thang đi xuống ở đằng sau.

Ánh mắt Thôi Dập ngời lên như đứa trẻ nghịch ngợm thấy món đồ chơi thú vị, anh lập tức muốn đi xuống ngay. Chu Kỳ cản anh lại:

– ch* k*n mít như thế không khí ngột ngạt lắm, cứ đợi một lúc đã.

Không thể đi xuống, lại không nén được lòng tò mò, Thôi Dập đành hỏi hai người trông có vẻ hiểu rõ mọi việc trước mặt:

– Này, sao hai người biết ở đây có một cái động thế?

Tạ Dung liếc nhìn Vệ thị, nói:

– Cứ xuống đó xem thử rồi hẵng nói sau.

Chu Kỳ lại không cẩn thận như Tạ Dung. Càn Chi Vệ vốn chẳng có ai cẩn thận, dù sao “hóng chuyện” là nghề của bọn họ.

Chu Kỳ bước tới bên cạnh Vệ thị, vừa chỉ vào tấm bình phong nhỏ vừa hỏi:

– “Vịnh Nhi Quy”*… Thêu đẹp thật, Thịnh An Quận Công có thích tấm bình phong này không?

* Nguyên văn “咏而归” (Vịnh Nhi Quy): cụm này là trích trong “Luận Ngữ” của Khổng Tử. Cả câu đó là “莫春者,春服既成,冠者五六人,童子六七人,浴乎沂, 风乎舞雩,咏而归” (Mộ xuân giả, xuân phục ký thành, quán giả ngũ lục nhân, đồng tử lục thất nhân, dục hồ Nghi, phong hồ Vũ Vu, vịnh nhi qui). Dịch nghĩa: “Như bây giờ là cuối tháng xuân, y phục mùa xuân đã may xong, năm sáu người vừa tuổi đôi mươi với sáu bảy đồng tử dắt nhau đi tắm ở sông Nghi rồi lên hóng mát ở nền Vũ Vu vừa đi vừa hát, kéo nhau về nhà”. (Trích trong Luận ngữ – Khổng Tử, Thiên tiên tiến, XI. 25, trang 294 của Nguyễn Hiến Lê)

Vệ thị sụp xuống dưới đất bật khóc. Triệu mẫu cũng quỳ xuống, khóc lóc van xin:

– Xin quý nhân phân xử cho con trai lão.

Thôi Dập bước đến, cầm tấm bình phong nhỏ kia lên, quan sát thật kỹ. Mặt trên là một hồ nước xuân, dương liễu rủ bóng lả lơi, một ông cụ mặc áo vải, quấn khăn đội đầu, năm sáu người trẻ cùng sáu bảy đứa bé vui vẻ nói cười. Bên cạnh lại có chữ “Vịnh Nhi Quy”. Thôi Dập tuy không ham học hành nhưng cũng bị ép đi học mười mấy năm, biết được đây là một đoạn trích trong Luận ngữ, Khổng Tử và các đệ tử nói về chí hướng của mình.

Vịnh Nhi Quy… Thôi Dập bỗng nhiên hiểu ra, Thịnh An Quận Công tên là Mục Vịnh.

Chu Kỳ lại chỉ cho anh xem:

– Chữ “Vịnh” này có phần “khẩu” dưới bộ “ngôn” bị cành liễu che mất một nét. Thiếu nét này hẳn là để kị huý.*

* Chữ “Vịnh” (詠) phồn thể có cấu trúc “ngôn” (言) + “Vĩnh” (永). Phần “ngôn” (言) bên trái lại có cấu tạo phía dưới là “khẩu” (口) . Bởi vì chữ “Vịnh” trong “Vịnh nhi quy” (咏而归) giống với chữ “Vịnh” trong tên của “Mục Vịnh” (穆咏) nên Vệ thị thêu một cành liễu che mất một nét của phần “khẩu” (口) để tránh tên huý của Mục Vịnh.

Tạ Dung vốn đang sắp xếp mấy quyển sách, nghe vậy thì liếc Chu Kỳ một thoáng rồi cúi đầu xem sách tiếp.

Đối với việc này, Thôi Dập chỉ có thể thở dài. Bản thân anh viết chữ còn quên cả chuyện kỵ huý tên của Thánh nhân nữa là, sao mà chú ý đến chi tiết này được? Trước giờ chỉ biết A Chu lươn lẹo, không ngờ nàng còn tinh tế đến mức này…

Chu Kỳ nhìn sang Vệ thị:

– Nếu tôi đoán không nhầm thì nương tử chắc đã từng làm người hầu ở phủ Thịnh An Quận Công? Hoặc cũng có thể là theo người của phủ Tín Dương Hầu ở Lạc Hạ đến phủ Quận Công?

Mấy phủ Công, phủ Hầu này nhiều đời kết thông gia với nhau, quan hệ bà con thân thích lằng nhằng, rắc rối.

Vệ thị chỉ khóc chứ chẳng nói gì.

Chu Kỳ không hỏi gì nữa. Chuyện nam nữ ấy à, nếu không đứng đắn, không thể công khai là dễ nảy sinh phiền phức lắm…

Nàng lại đi về phía cửa động, nhìn Tạ Dung và Thôi Dập:

– Hai vị lang quân, đi thôi chứ?

Đám sai nha vội thắp nến đã chuẩn bị sẵn lên. Chu Kỳ nhận lấy rồi đi xuống trước. Thôi Dập vội vàng đuổi theo nàng, tiếp đó là Tạ Dung, còn đám sai nha và người hầu thì tụt lại phía sau.

Cửa động này được xây dựng cực kỳ khéo, rõ ràng chỉ khoét một hố nhỏ trên tường không cao lắm, thế mà lúc đi xuống dưới lại không cần khom người, càng đi sâu vào trong lại càng rộng rãi, ba người sóng vai cùng đi vẫn thoải mái.

Bên trong cũng khá cầu kỳ, được xây bằng gạch đen thẳng tắp, trên vách tường cách cửa động không xa còn có giá cắm nến, chỉ là nơi đâu cũng phủ đầy bụi bặm.

Chu Kỳ cúi xuống, kiểm tra dấu vết dưới đất. Có dấu giày thêu của nữ và cả dấu ủng của nam trên lớp bụi đã tích tụ gần hai mươi năm…

Chu Kỳ lắc đầu, khẽ thở dài một hơi. Thôi Dập tưởng nàng đã phát hiện ra điều gì, vội hỏi:

– Sao thế?

– Tự dưng cảm thấy nhớ chuyện ngày xưa…

Thôi Dập bật cười:

– Đến chỗ nào cũng thấy nhớ chuyện ngày xưa, cô tính học theo anh Tạ đấy à?

Chu Kỳ nhìn về phía Tạ Dung cũng đang giơ đèn lên quan sát dấu vết dưới đất kia. Tạ Dung cũng ngoảnh lại nhìn nàng.

Nghe mấy chữ “nhớ chuyện ngày xưa” này, Tạ Dung càng dám chắc suy đoán của Chu Kỳ về vụ án này giống với mình. Nàng trông l* m*ng vậy chứ trong lòng lại hiểu rõ rành rành…

Còn Chu Kỳ lại nghĩ: “Động một tí là ‘nhớ chuyện ngày xưa’… Tạ Thiếu Khanh đa tình vậy ư?”

Ban đầu trong mắt Chu Kỳ, Tạ Thiếu Khanh vốn dĩ đã từ “tuyết trên núi xa” biến thành “khói trên mái nhà”, giờ đây lại sắp hóa thành “sương trên cánh hoa” có thể trích vào bình, chôn dưới gốc mai già, chờ đến lúc ngày xuân nắng ấm, hoặc lúc trăng sáng gió mát, hoặc lúc đêm tuyết tĩnh lặng, đem ra pha trà nhâm nhi.

Đã có người từng tặng Chu Kỳ một vò nước sương như thế. Nàng học đòi văn nhã cùng đám anh em uống một lần. Nàng và Đoàn Mạnh đều không sao, nhưng Trần Tiểu Lục và Thiệu Sâm lại bị đau bụng. Hai cậu nhóc cứ khăng khăng là nước có vấn đề. Chu Kỳ lại bảo họ là do buổi trưa ăn nhiều thịt dê quá nên bị đầy bụng. Rốt cuộc là thế nào, cho đến giờ đó vẫn còn là vụ án treo của chi Hợi thuộc Can Chi Vệ. Vò nước sương vẫn còn một nửa, Chu Kỳ tuy cứng miệng nhưng lại đem nó đi tưới hoa chứ không uống. Sinh ra nơi nào rồi trở về nơi ấy, như vậy cũng coi như đã về đúng nơi của nó rồi.

Chu Kỳ rời mắt khỏi khuôn mặt tuấn tú dưới ánh đèn nhập nhoạng, thầm bĩu môi: “Vị này chắc chắn là kiểu nhìn thì đẹp mã mà đụng vào thì nhức đầu”.

Chu Kỳ tiếp tục cúi đầu tìm kiếm. Chợt, nàng dừng bước lại:

– Ở đây!

Nghe vậy, Tạ Dung và Thôi Dập đều bước lại gần.

Ba ngọn đèn chụm lại soi rõ dấu vết kia. Đó là một vệt dài chừng một thước, rộng hơn hai tấc*, màu đỏ sẫm, trông như vật gì đó bị kéo lê tạo thành.

* Một thước (尺) khoảng 33.3 cm; một tấc (寸) khoảng 3.33 cm.

Thôi Dập hỏi:

– Đây là vết máu hả?

Tạ Dung chấm nhẹ ngón trỏ lên đó, ghé sát vào ánh đèn soi thử, vân vê rồi đưa lên mũi ngửi. Trên ngón tay không có gì, ngay cả bụi cũng rất ít, chỉ thoang thoảng mùi máu tanh.

– Hẳn là vết máu khá mới. Phía Đông nhiều hơn còn phía Tây thì ít hơn. Điều này chứng tỏ ai đó đã kéo lê thứ gì đó từ lối vào chúng ta mới đi vào, đi về phía trước.

Đám người tiếp tục đi về phía trước, phát hiện thêm một vài giọt máu và vết kéo lê ở một chỗ khác.

Đường hầm này không quanh co lắm, cũng không quá dài. Nếu không phải lần đầu tiên vào và còn phải dò tìm dấu vết, thì đi hết đường hầm này cùng lắm chỉ tốn thời gian một chén trà mà thôi.

Ánh đèn sáng sủa chiếu rõ tay nắm ở cửa lối ra. Tạ Dung gạt tay nắm một cái thì cánh cửa từ từ dịch chuyển.

Ba người đi lên bậc thang, đột nhiên trông thấy một cô hầu gái đang trợn mắt há mồm nhìn họ.

Ba người đi ra, nhìn sang bên cạnh lại thấy một giá sách nữa. Quan sát kỹ những thứ trong căn phòng này, chỉ thấy bình phong lớn dát vàng, sập gỗ đàn hương lớn khắc hoa văn và bàn đọc sách. Trên bàn đặt lư hương nhỏ đính đá quý khảm dây đồng, ống đựng bút chạm rỗng và chặn giấy bằng ngọc. Đứng bên cạnh bàn sách là hầu gái có dung mạo thanh tú, mặc áo lụa mỏng. Không cần hỏi cũng biết đây chắc chắn là thư phòng trong phủ Thịnh An Quận Công.

Thôi Dập hỏi:

– Này, tỉnh lại đi! Thịnh An Quận Công đâu rồi?

Tỳ nữ đỏ mặt bừng bừng, vội vàng hành lễ:

– Bẩm Thôi lang quân, gia chủ chắc đang ở thư phòng trong nhà ạ.

Thôi Dập cười khẩy, với cái học vấn đó của Mục Vịnh mà còn bày đặt làm tới tận hai thư phòng… Cơ mà ngẫm lại nơi này cũng không tính là thư phòng, nên coi là phòng ngủ thì đúng hơn. Nghĩ vậy, Thôi Dập thấy thoải mái hẳn. Sau đó, anh nghi hoặc hỏi:

– Làm sao cô nhận ra ta?

Hầu gái nhỏ nhẹ đáp:

– Dạ vào dịp tết Thượng tỵ, con đã từng thấy lang quân đánh mã cầu ạ.

* Nguyên văn “上巳节” (Thượng tỵ tiết): là lễ tết vào ngày Tỵ đầu tiên của tháng Ba âm lịch. Tết Thượng tỵ còn có tên là lễ Phất hệ, tức lễ tắm gội để trừ tai họa cầu phúc. (Tham khảo bài viết “Tết Thanh Minh: Ba lễ, một hội và câu chuyện xúc động lòng người”)

Thôi Dập gật đầu, nghĩ bụng chắc là do mình đánh mã cầu giỏi, phong tư tuyệt vời, hầu gái này nhớ kỹ cũng phải thôi. Mã cầu là một trong những điểm mạnh của Thôi Dập, trong đám lang quân ở Trường An hiếm có ai là đối thủ của anh. Thôi Dập nhìn sang Tạ Dung, lại nhìn sang Chu Kỳ rồi bật cười đắc ý.

Chu Kỳ ngước lên nhìn nóc nhà, còn Tạ Dung thì quay đầu tìm cơ quan đóng mở giá sách bên này.

Thôi Dập nghiêm mặt nói với hầu gái:

– Dẫn đường cho ta đến thư phòng trong nhà đi.

Chu Kỳ nhoẻn miệng cười, Tạ Dung cũng khẽ mỉm cười.

Chu Kỳ nhướng mày: “Thật ra Tạ Thiếu khanh cười lên trông cũng duyên ra phết. Nụ cười đó có lẽ là tinh hoa của phong lan ấy nhỉ?”

– Hết chương 14 –


Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.