Kinh Hoa Trú Dạ - Bánh Anh Đào

Chương 16: Nhà ma ám (16)




Nội dung chương đang bị khóa. Vui lòng mở lại quảng cáo
để tiếp tục ủng hộ dịch giả và đọc Chương 16 miễn phí!

Nghe Tạ Dung thuật lại toàn bộ diễn biến vụ án, vẻ vui mừng của Trịnh Phủ doãn hiện rõ mồn một trên mặt, ông vô thức xoa xoa hai tay vào nhau, rồi chợt nhận ra hành động ấy không mấy nhã nhặn mới dừng lại, cố ra vẻ nghiêm nghị:

– Lần này vất vả cho Tử Chính rồi. Cậu quả là người có tài, chẳng trách được Lý Tướng công coi trọng, còn đặc biệt dâng tấu lên Thánh nhân xin bổ nhiệm cậu vào Đại Lý Tự.

– Ông Trịnh quá khen rồi. Vụ án này do phủ Kinh Triệu, Can Chi Vệ và Đại Lý Tự cùng nhau phá án, mọi người đồng tâm hiệp lực mới điều tra ra được manh mối, không phải là công lao của riêng ai cả.

Trịnh Phủ doãn càng vui mừng hơn nữa, nhưng vẫn nói:

– Ừm, Tử Chính đừng quá khiêm tốn…

Chu Kỳ vừa ngồi nghe câu được câu chăng, vừa nhâm nhi trà, ăn trái cây khô trên bàn bên cạnh. Nho khô của phủ Kinh Triệu hẳn là mua từ lái buôn người Hồ ở chợ Tây. Hạt to, ngọt, không bị khô quá, ngon tuyệt vời.

Nghe mấy lời xã giao khách sáo của hai người, Chu Kỳ thầm cười trong bụng, mấy quan viên này…

Thật ra, từ nhỏ Chu Kỳ đã từng nghe và từng nói vô số lời nói như vậy rồi. Ngẫm lại thì mấy lời xã giao khách sáo của Tạ Thiếu khanh vẫn mang cái vẻ kín đáo và nhã nhặn của văn nhân, cứ như thể đang mặc áo quần vậy, không đủ “thoáng đãng”. Nếu nói về “thoáng đãng” thì phải kể đến đám người trong cung… toàn là những kẻ “cởi truồng” thôi.

Chu Kỳ đang với tay bốc nho, nghĩ đến đây thì khựng lại. “Sao cứ gặp Tạ Thiếu khanh là mình lại nghĩ tới mấy chuyện tế nhị thế nhỉ? Trêu ghẹo mà cứ nhắm vào một người mãi như vậy thì hơi quá trớn rồi…” Chu Kỳ hiếm khi tự kiểm điểm bản thân một lần.

Trịnh Phủ doãn khen ngợi:

– Theo ta thấy, Tử Chính đúng là sinh ra để làm Thu Quan.

Tạ Dung khách sáo đáp lại mấy câu, nghe ông nhắc đến “Thu Quan” thì bất giác liếc nhìn Chu Kỳ đang ngồi uống trà và ăn trái cây khô ở đằng kia.

Chu Kỳ nghiêm trang mỉm cười với chàng. Tạ Dung nhíu mày, thầm nghĩ: “Nàng bị làm sao thế nhỉ?”

Lần này Trịnh Phủ doãn khá hoà nhã với Chu Kỳ, thấy dáng vẻ cà chớn, bất cần của nàng cũng không bực bội, ngược lại còn hiếm khi nói một câu: “Chu Tướng quân cũng vất vả rồi”. Còn lời khen của ông dành cho Thôi Dập thì chân thành hơn trước nhiều, nào là “không phụ kỳ vọng của mọi người”, nào là “tấm gương cho con cháu thế gia”.

Chu Kỳ và Thôi Dập chắp tay, khách sáo đáp lại mấy câu. Hai người lại liếc nhau rồi mỉm cười, trong lòng biết tỏng vì sao Trịnh Phủ doãn lại làm như thế.

Theo luật lệ của triều đình, nếu là vụ án liên quan đến quan viên, thì sẽ do phủ Kinh Triệu và Đại Lý Tự cùng xét xử; nếu là vụ án lớn, Bộ Hình và Ngự Sử Đài cũng phải tham gia vào. Nhưng bất kể vụ án lớn nhỏ thế nào, chỉ cần liên quan đến quan viên thì không tính vào thành tích đánh giá của phủ Kinh Triệu, coi như giảm bớt gánh nặng cho phủ Kinh Triệu vốn đã lắm việc vặt vãnh.

Cứ tưởng chỉ là vụ án dân thường giết người, nào ngờ thoắt cái thành vụ án quan viên giết người. Trịnh Phủ doãn thầm nghĩ: “Chuyển biến hay thật! Quẻ xăm xin ở chùa Thanh Long linh nghiệm quá. ‘Lối đi ngỡ cỏ phủ đầy, ngờ đâu nguồn vắng vẫn đây mái nhà’ – đây chẳng giống hệt ông lão đánh cá tìm được lối đi đó sao?” Ông vốn đã chuẩn bị tinh thần cáo lão về vườn rồi.

Trịnh Phủ doãn đứng dậy, nói:

– Vụ án này nên xét xử sớm, không nên trì hoãn lâu. Sớm thẩm tra rõ ràng rồi kết án thôi, cũng để cho người đã khuất an lòng, chúng ta đi luôn nhỉ?

Cả ba cùng đứng dậy hành lễ, rồi theo Trịnh Phủ doãn ra công đường.

– Mục Vịnh, anh là con cháu công thần, lại có tước vị, bản phủ cũng không muốn làm quá khó coi. Nay sự việc đã rõ ràng vậy rồi, anh nên thành thật khai báo đi.

Sau một hồi chờ đợi, lúc này Mục Vịnh đứng giữa công đường phủ Kinh Triệu trông có vẻ bình tĩnh hơn cả lúc trước bị Thôi Dập tra hỏi nữa.

– Đúng là mỗ có tư tình với Vệ thị, nhưng mỗ không hề giết Triệu Đại.

Mấy ai đứng trước công đường mà ngoan ngoãn nhận tội? Trịnh Phủ doãn đã quá quen với những chuyện như thế, chỉ hỏi:

– Anh cứ kể đầu đuôi xem nào.

– Vệ thị vốn là hầu gái của bà nội mỗ. Hồi niên thiếu, bà nội yêu thương mỗ hết mực, thường sai mấy hầu gái thân cận sang chăm sóc mỗ. Vệ thị là một trong số đó. Năm mỗ chừng mười tuổi, mỗ phát hiện ra đường hầm trong thư phòng ngoài. Lúc ấy, Vệ thị đang theo hầu, mỗ bèn dẫn cả nàng xuống đó xem thử.

– Anh có từng kể việc này cho ai khác không?

– Bấy giờ mỗ còn nhỏ, lại sợ người lớn trong nhà rầy la nên không dám kể cho ai cả. Về sau, mỗ cũng có đi xuống đường hầm đó thêm mấy lần, nhưng thấy nó thông ra một toà nhà nhỏ bỏ hoang chứ chả có gì đáng xem, thành thử không xuống nữa, dần dà cũng quên bẵng đi.

Trịnh Phủ doãn hỏi:

– Vậy anh bắt đầu tư tình với Vệ thị từ bao giờ?

– Nhà mỗ vốn thân quen với phủ Tín Dương hầu. Bà nội mỗ gửi gắm Vệ thị cho Tam nương nhà đó. Ba năm trước, Vệ thị đến Trường An. Lúc nàng từ đường hầm đó chui ra thì mỗ mới biết nàng đã được thả tự do, lại còn cưới tên Triệu Đại đó. – Mục Vịnh khẽ mím môi rồi kể tiếp. – Nàng khóc lóc kể rằng nhà họ Triệu keo kiệt, bủn xỉn. Mẹ chồng thì khắc nghiệt, còn Triệu Đại thì thô bỉ, cục cằn. Mỗ rất mực thương xót nàng, bọn tôi vốn là chỗ thân quen… thế rồi bắt đầu qua lại với nhau.

Trịnh Phủ doãn lại hỏi:

– Vậy đứa bé Vệ thị sinh là con của anh hay của Triệu Đại?

Mục Vịnh cúi đầu nói:

– Là con của mỗ.

Chuyện này cũng không có gì ngạc nhiên, Trịnh Phủ doãn cất tiếng:

– Vậy anh kể rõ chuyện mình giết Triệu Đại đi.

Mục Vịnh ngẩng đầu lên:

– Mỗ thật sự không giết Triệu Đại. Dù các vị có tin hay không, mỗ thật sự không giết hắn.

Trịnh Phủ doãn mỉm cười, thấy lời phủ nhận của hắn chả có sức nặng tí nào:

– Vậy anh nói xem, sao túi tiền của anh lại rơi bên cạnh thi thể ở phường Bình Khang?

Trịnh Phủ doãn rất rành thuật hỏi cung. Ông chẳng hề hỏi đó có phải là túi tiền của hắn ta không, mà chỉ hỏi tại sao túi tiền của hắn ta lại rơi ở đó.

Đúng như dự đoán, Mục Vịnh không hề phủ nhận, chỉ im lặng một lát rồi lắc đầu nói:

– Mỗ không biết, có lẽ bị ai đó lấy cắp, hoặc vô ý đánh rơi đâu đó ở phường Bình Khang rồi bị người ta nhặt được, dùng nó để đổ tội cho mỗ.

Trịnh Phủ doãn thầm nghĩ: “Cái đám con cháu công thần này đúng là ‘chồn đẻ ra chuột’, đời sau chẳng bằng đời trước. Cái cớ vụng về như thế chắc chỉ con nít ba năm tuổi mới dùng, chứ đứa bảy tuổi thì đã biết bịa ra lý do nào nghe xuôi tai hơn rồi”. Nhưng rồi lại nghĩ: “Vì cái thằng ăn hại này mà suýt nữa mình phải về vườn sớm”. Trịnh Phủ doãn thấy trong bụng cứ tức anh ách.

– Vậy anh giải thích vết máu trong đường hầm đi.

– Chuyện đó… mỗ thực sự không biết. Có lẽ là vết máu từ nhiều năm trước chăng. Năm đó phủ Tần Quốc Công bị bao vây, biết đâu có người bị thương dùng đường hầm đó nên máu mới nhỏ giọt xuống đất.

Trịnh Phủ doãn vỗ bàn, cười nhạt:

– Đúng là nói bậy nói bạ, toàn là sơ hở không! Dưới hầm đó rõ ràng là vết máu bị kéo lê, hơn nữa còn là kéo từ hướng nhà họ Triệu sang phủ Quốc Công, vậy mà còn dám nói là vết tích cũ…

Mục Vịnh nhíu mày, ánh mắt lộ vẻ ngơ ngác, nói:

– Mỗ không biết thật mà.

Hừm, giả vờ giả vịt cũng khéo đấy. Tay Quận công này kể ra cũng không phải là thứ vô dụng. Trịnh Phủ doãn từ tốn nói:

– Để bản phủ nói thử, anh xem có đúng không nhé. Anh tư tình với Vệ thị, sinh được một đứa con. Chẳng biết manh mối lộ ra từ đâu mà khiến Triệu Đại sinh nghi rồi cãi nhau với Vệ thị. Vì thế hầu gái mới nghe được mấy chữ “có người khác”.

Trịnh Phủ doãn nói càng lúc càng nhanh:

– Tội thông gian này, dẫu là lớn hay nhỏ gì cũng đều là phạm pháp cả. Sợ Triệu Đại kéo tới làm ầm ĩ sẽ bị thiên hạ biết được, anh dẫn theo người hầu, cấu kết với Vệ thị, vào nhà họ Triệu đánh trọng thương thậm chí g**t ch*t Triệu Đại luôn. Xong xuôi, anh lại dùng đường hầm kéo xác về phủ. Sau đó, anh chặt đầu, xử lý sạch sẽ rồi cho xe ngựa chở tới phường Bình Khang, vứt xác ở hẻm Bắc ngoặt phía Đông.

– Hẳn là Vệ thị đã sớm biết Triệu Đại quen Thường Đan Nương, cô ta nói cho anh biết nên anh mới bày kế vu oan giá hoạ như thế. Cái túi tiền là lúc anh chuyển xác đã vô ý đánh rơi. Suy đoán này của bản phủ hẳn không sai chứ? Anh còn không mau khai thật ra!

Nói đến câu cuối cùng, giọng điệu của Trịnh Phủ doãn trở nên nghiêm khắc và đanh thép hẳn.

Mục Vịnh tái mặt, lắc đầu không ngừng:

– Không phải! Mỗ không hề giết Triệu Đại. Mỗ không biết gì hết, không phải mỗ!

Xem chừng tinh thần hắn ta đã bên bờ vực sụp đổ rồi.

Trịnh Phủ doãn hừ một tiếng, thầm nghĩ: “Nếu anh không có tước vị trên người, ta nọc anh ra đánh cho mấy trượng là khai hết chứ gì”. Thẩm vấn hạng người này đúng là bó chân bó tay hết sức. Trịnh Phủ doãn lại nghĩ bụng, cứ tra hỏi sơ cho ra manh mối rồi viết tờ biểu, giải hắn ta lên Đại Lý Tự là xong chuyện, bèn phẩy tay cho người dẫn Mục Vịnh xuống.

Sau đó, ông bắt đầu thẩm vấn Vệ thị.

Lời khai của Vệ thị cũng tương tự như Mục Vịnh. Triệu Đại mua toà nhà đó quả nhiên là do cô ta dẫn dắt.

– Tôi nói với hắn rằng nghe nói trong phường này có toà nhà giá hời lắm. Hắn là kẻ bủn xỉn, nghe “giá hời” thì còn bận tâm đến chuyện gì khác nữa đâu, bàn với mẹ hắn xong là mua ngay.

– … Hắn định sửa sang lại mảnh vườn sau nhà, cải tạo phòng khách nơi đó thành nhà ấm để bày cây cảnh. Tôi lại bảo làm nhà ấm tốn than ghê lắm, bày có chút cây cảnh đó chả biết có bù nổi tiền than không, hắn nghe vậy mới thôi.

– Hôm đó, hầu gái nghe cô với Triệu Đại cãi nhau là “có người khác”. Đấy là chuyện thế nào?

– Dạo ấy hắn đòi sửa lại phòng khách sau nhà, tôi không cho. Hắn bèn cười đùa rằng: “Hay là trong phòng ấy có hoa tinh, yêu quái biến thành đàn ông hớp hồn mình rồi?”. Tôi nghe mà giật nảy mình, liền nói lại rằng: “Mấy chuyện có người khác như vậy đừng có nói bừa! Tưởng ai cũng như chàng chắc, thơm hay thối gì cũng đều vơ vào người tuốt!”.

– Vậy là cô đã biết chuyện Thường Đan Nương từ lâu rồi à?

Vệ thị cúi đầu, đáp:

– Vâng.

Trịnh Phủ doãn lắc đầu, nghĩ bụng: “Trước thì mua nhà, sau lại thông gian, rồi còn dùng lời lẽ để bắt thóp, quay lại chụp mũ chồng mình. Chưa kể những hành vi sau khi vụ án xảy ra nữa. Sao trên đời lại có hạng đàn bà gian trá thế chứ?”. Ánh mắt liếc sang Chu Kỳ đang đứng ở đằng kia, ông lại nghĩ: “Đàn bà xảo trá thế này kể cũng thường thôi, đáng sợ nhất là cái loại vừa gian manh, vừa đanh đá, lại vừa hung dữ…”.

Tuy nhiên, Vệ thị nhất quyết không thừa nhận đã hợp mưu với Mục Vịnh giết Triệu Đại.

– Hắn đúng là bị mất tích đấy ạ. Biết đâu hắn đã bị con ả ở phường Bình Khang đó giết rồi cũng nên.

Trịnh Phủ doãn cũng chẳng nể nang gì cô ta, cho dùng hình ngay. Thế nhưng Vệ thị vẫn nhất quyết không nhận tội giết chồng.

– Bằng chứng sờ sờ ra đó, cô cứ ngoan cố chối tội thì có ích gì? Cô tưởng mình không khai thì bản quan không làm gì được cô hử?

Nói đoạn, Trịnh Phủ doãn định tăng thêm hình phạt thì thấy Tạ Thiếu khanh nhìn mình vẻ như muốn nói gì đó. Ông lập tức đổi ý, phất tay cho người giải Vệ thị xuống.

Mấy người trở lại sảnh phụ. Trịnh Phủ doãn cười nói:

– Mới rồi trên công đường, mỗ thấy Tử Chính hình như có lời gì muốn nói.

Tạ Dung có vẻ áy náy, cười nói:

– Là hạ quan quấy rầy ông Trịnh thẩm án rồi.

– Giữa chúng ta còn nói chi mấy lời khách sáo đó. – Trịnh Phủ doãn ôn tồn trách chàng. – Tử Chính, có gì cứ nói thẳng ra đừng ngại.

– Căn cứ vào diễn biến vụ án và quá trình xét xử trên công đường, án này vẫn còn nhiều điểm đáng ngờ. Triệu Đại kia mất tích vào ngày mồng một, còn cái xác nam ở phường Bình Khang bị giết vào tối mồng bốn. Nếu cái xác nam kia đúng là Triệu Đại, vậy khoảng thời gian mấy ngày trời ở giữa đó là để làm gì? Đây không phải là một vụ bắt cóc, vì nếu là bắt cóc thì phải có tin đòi tiền chuộc chứ. Trên người nạn nhân cũng không có dấu vết bị tra tấn, cho nên mấy ngày đó Mục Vịnh không dùng để tra tấn Triệu Đại.

Trịnh Phủ doãn hơi trầm ngâm nói:

– Có lẽ hắn còn đang do dự? Dù sao giết người chứ đâu phải giết gà.

Tạ Dung nói tiếp:

– Còn túi tiền trống trơn kia nữa. Xem buổi thẩm vấn trên công đường hôm nay, nó đúng là của Thịnh An Quận công. Nhưng tại sao anh ta lại đeo một cái túi tiền trống không, đã thế còn làm rơi đúng ngay tại hiện trường vứt xác. Chuyện này chẳng quá kỳ lạ, quá trùng hợp hay sao?

Điểm này thì đến Trịnh Phủ doãn cũng không giải thích rõ ràng được.

– Huống hồ Triệu Đại vốn mất tích ở bên ngoài, làm sao bị giết trong nhà chứ? Tại sao thi thể hắn lại có mùi rượu? Rồi còn chuyện mẹ hắn mơ thấy ác mộng, còn cả tiếng khóc kỳ dị kia nữa… Vụ án này còn quá nhiều nghi vấn. Hạ quan thiết nghĩ, vụ án này cần phải điều tra thêm, chưa nên vội kết luận.

Trịnh Phủ doãn đang vui mừng thì bị dội một gáo nước lạnh, trong lòng cảm thấy hơi khó chịu. Nhưng rồi ông lại nghĩ: “Cũng phải, nên tính cho kỹ, làm cho chắc. Người ta thường nói ‘dẫu hèn cũng ngựa nhà quan’* kia mà. Phủ Thịnh An Quận công tuy đã sa sút nhưng gốc rễ vẫn còn đó, lỡ đâu có gì sơ suất, để họ ‘cắn trả’ thì đúng là phiền phức thật”.

* Nguyên văn “破船尚有三千钉” (Phá thuyền thượng hữu tam thiên đinh): nghĩa đen là “thuyền nát vẫn còn ba ngàn cây đinh”, nghĩa bóng là “một gia đình giàu có dù đã phá sản thì họ vẫn còn lại chút của cải, không đến mức trắng tay”. Nhà dùng câu “dẫu hèn cũng ngựa nhà quan” với nét nghĩa “dẫu sa sút vẫn là con nhà quý phái” để dịch cụm này. Nếu có ý hay hơn, bạn đọc góp ý cho nhà với nhé.

Trịnh Phủ doãn lại tươi cười:

– Vậy theo Tử Chính, chúng ta nên bắt đầu điều tra từ đâu đây?

– Cứ điều tra hành tung của Mục Vịnh trong mấy ngày đó trước đã. Bên nhà họ Triệu cũng cần phải đến xem lại.

– Hết chương 16 –


Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.