Kinh Hoa Trú Dạ - Bánh Anh Đào

Chương 55: Kẻ đa tình (8)




Nội dung chương đang bị khóa. Vui lòng mở lại quảng cáo
để tiếp tục ủng hộ dịch giả và đọc Chương 55 miễn phí!

Lữ Trực ngồi trong một quán rượu nhỏ. Trước mặt hắn là một đĩa rau cần muối chua, một dĩa thịt đầu dê và một hồ rượu. Rau cần muối và thịt dê chỉ mới gắp qua loa vài miếng, còn hồ rượu đã vơi quá nửa rồi.

Lữ Trực lại tự rót cho mình một chén rồi ngửa cổ uống cạn.

Gần đó có mấy sĩ tử vừa ăn cơm, vừa nói chuyện rôm rả.

– Trần Cửu, năm nay anh thi đỗ là cái chắc rồi, đến lúc đó đừng quên anh em đấy nhé.

Một người trong số họ huých vai người kia một cái. Người kia hơi nghiêng mình, cười đáp:

– Chắc chắn rồi! Anh em chúng ta là giao tình ăn chung một hủ cá muối kia mà. Mà nói mới nhớ, sao lệnh đường muối cá lại ngon thế cơ chứ? Sau này có lúc nào chán ăn biếng uống hay ốm đau bệnh tật, tôi chắc sẽ nhớ món này lắm đấy.

Người vừa nói lúc nãy thở dài rồi cười nói:

– Lần thi này tôi coi như xong rồi. Thi thêm hai năm nữa mà vẫn không đỗ, lúc đó anh được bổ nhiệm làm quan ở đâu, tôi sẽ đến nơi ấy mở một tiệm nhỏ chuyên bán cá muối. Anh phải đề tặng tôi một bức hoành phi treo trước tiệm, để tôi còn có cái mà khoe với người ta: “Đây là món quý nhân ưa thích”.

Nghe bạn nói có vẻ nản lòng thoái chí, “Trần Cửu” vội vàng khuyên nhủ:

– Gì đâu đến nỗi ấy? – Rồi đưa ra đề nghị. – Năm nay Thánh nhân mừng thọ tròn tuổi, biết đâu sẽ có Chế khoa đấy. Ngọc Thường, nếu kỳ thi này anh không thuận lợi, chi bằng đánh cược một phen, cứ ở lại trong kinh tham gia Chế khoa đi. Anh đã thuộc nằm lòng sách Pháp luật, mà Thường khoa năm nay không có khoa Minh pháp, biết đâu Chế khoa sẽ có đấy. Vả lại, Chế khoa còn có một điểm tốt hơn Thường khoa, đó là hễ thi đỗ là được bổ nhiệm làm quan ngay, không cần phải thông qua kỳ tuyển chọn của Bộ Lại như người đỗ Thường khoa.

Người được khuyên kia ngẫm nghĩ một lát, cảm thấy hơi xuôi xuôi bèn gật đầu:

– Đấy cũng là một cách hay.

Một người khác đã ngà say, lè nhè cười nói:

– Các anh nghĩ nhiều, nghĩ xa quá! Có đỗ đạt hay không đều là việc sau này, giờ cứ uống rượu đã! – Dứt lời, hắn gõ bàn cất giọng hát vang.

“Trần Cửu” và “Ngọc Thường” đều bịt tai cười nói:

– Thôi đừng hát nữa, khác gì lừa kêu đâu!

Người còn lại càng hớn hở hơn.

Chủ tiệm và hoả kế thấy được cũng chỉ cười xoà.

Nghe lời bọn họ nói, nhìn dáng vẻ say rượu cuồng nhiệt của bọn họ, Lữ Trực bỗng nhớ đến một người khác cũng phóng khoáng như thế, cũng ầm ĩ như thế, tài văn chương hơn người, hễ uống say thì một bài ca hành dài đến vậy cũng chỉ hạ bút là thành. Mặc dù đôi khi người đó khá đáng ghét nhưng không phải không có điểm tốt. Năm ngoái, cả hai đều thi rớt, bản thân hắn thì chán nản cực kỳ, còn người đó vốn chẳng mấy bận tâm lại ngồi cùng hắn cả đêm. Người đó vô cùng thẳng thắn bộc trực, hiếm khi nói dối, tuy thỉnh thoảng nói năng làm người ta tức điên, nhưng ngẫm kỹ lại thì những gì người đó nói đều đúng cả…

Lữ Trực lắc lắc đầu, đứng dậy, đặt tiền rượu xuống, liếc nhìn ba sĩ tử bàn bên cạnh đang uống rượu và trò chuyện vui vẻ rồi bước ra khỏi quán rượu nhỏ.

Cuối tháng Hai, nửa đêm đầu trăng chưa ló dạng, nơi chân trời chỉ giăng vài ngôi sao lẻ. Sau khi tuyết tan, đường khá khó đi, may sao tửu lượng của Lữ Trực cũng cao, hôm nay tuy uống kha khá nhưng bước chân vẫn còn vững vàng.

Lữ Trực từ cổng Tây đi vào lữ quán, liếc qua sân của Tiêu Khoan rồi trở về chỗ ở của mình.

Vốn không có tài sản gì quý giá, lại ở trọ trong lữ quán, nên Lữ Trực chẳng bao giờ khoá cửa. Hắn đẩy cửa chính ra, trở tay cài then lại, đi vào trong sân, vào phòng rồi thắp đèn lên, bỗng thấy trên bàn sách có một mảnh giấy.

Lữ Trực cầm lên xem. Đó là nét chữ của Tiêu Khoan, viết rằng: “Trời rét đất lạnh, đèn đơn người chiếc, có vò rượu quý, đợi bạn hiền sang đối ẩm”.

Nhìn mảnh giấy viết thư này, Lữ Trực chau mày, sắc mặt đột nhiên sa sầm lại. Hắn hừ một tiếng, sải bước đến bên tường lấy thanh kiếm rồi vọt thẳng ra ngoài. Đẩy tung cánh cổng chính sân nhà của Tiêu Khoan ra, Lữ Trực bước vào sân. Ánh đèn leo lét hắt ra từ giấy dán cửa sổ phòng ngủ, bên trong thấp thoáng một bóng lưng gầy gò.

Lữ Trực chẳng hề lén lút, “rầm” một tiếng đẩy cửa phòng ra, bước vào phòng trong tối om rồi rẽ vào buồng ngủ của Tiêu Khoan. Ngọn đèn trong buồng ngủ chợt tắt ngấm. Lữ Trực sững người, cảm thấy một luồng gió rít bên tai thì vội vã né đi.

– Tiêu Khoan! Mày đã giết Sử Đoan và Ngô Thanh Du, lẽ nào cả tao mà mày cũng không tha sao!

Mặc dù trong buồng tối hù nhưng Lữ Trực đã thấy rõ bóng người kia đang ở đây:

– Tới đây! Tao cóc sợ mày! – Dứt lời, giơ kiếm đâm tới.

Tiêu Khoan xoay người, nhẹ nhàng tránh đi, giơ tay phải chộp vào cổ tay Lữ Trực. Lữ Trực chưa kịp phản ứng đã thấy cánh tay mình tê rần, thanh kiếm tức khắc rớt xuống đất.

Lữ Trực thất kinh, toan giằng tay khỏi gọng kìm của Tiêu Khoan thì bả vai bị ghìm chặt. Lữ Trực định mượn sức vóc cao lớn của mình để đẩy Tiêu Khoan ra, nhưng lại cảm thấy cánh tay và khoeo chân đau điếng. Ngay sau đó, cánh tay hắn bị vặn ngược ra sau, cả người cũng bị ép quỳ rạp dưới đất.

“Xoẹt” một tiếng, một người từ góc tối bên giường bước ra, cầm que đánh lửa đi tới trước bàn thắp nến lên. Tiếp đó có vài người khác từ trên giường, góc tường và các nơi khác đi ra.

Lữ Trực sững người, vô thức quay đầu nhìn người đang bắt giữ mình.

Chu Kỳ đang mang khăn vấn đầu của nam, đá văng thanh kiếm dưới chân hắn ra, vẻ mặt chê bai:

– To xác thế này mà chẳng có tí sức nào, khá nhỉ!

Thôi Dập cười nói:

– Ai cũng như cô thì phiền to rồi.

Chu Kỳ ngẫm lại thấy cũng phải. Lữ Trực này là kẻ nóng tính, Chu Kỳ sợ hắn làm gì đó quá khích, bèn lôi hắn ra giữa phòng rồi lấy dây thừng trói lại. Tạ Dung đang ngồi trên sập nhìn Lữ Trực, nói:

– Việc đã đến nước này rồi, nói đi.

Lữ Trực lại nghiến răng không nói lời nào.

Thôi Dập đi tới nhặt quyển sách Chu Kỳ vừa dùng làm “ám khí” kia lên, vừa gõ gõ quyển sách vào lòng bàn tay, vừa đi vòng quanh Lữ Trực một vòng:

– Ta thật không hiểu nổi, một kẻ đi thi khoa Minh Kinh như anh, cớ gì phải dồn cậu ta vào chỗ chết như thế?

Lữ Trực vẫn lặng thinh. Tạ Dung thản nhiên nói:

– Có lẽ Sử Đoan nói năng bất cẩn, đắc tội với hắn, cũng có thể là vì họ ở quá gần nhau, hoặc có lẽ là cả hai.

– Ở gần nhau có gì mà đến mức phải giết người?

– Lữ Trực theo khoa Minh Kinh, thi chủ yếu về trí nhớ và học thuộc, càng gần ngày thi thì thời gian càng quý giá. Sử Đoan lại thường xuyên gọi kỹ nữ đến ca múa, uống rượu ban đêm. Cậu ta còn thích đàn tỳ bà, tiếng đàn réo rắt, lại vang rất xa. Người hàng xóm Lữ Trực này hẳn đã bị làm phiền ghê lắm.

– Thế mà cũng đáng để giết người ư?

Thôi Dập nhìn Chu Kỳ, cả hai vốn chẳng ham học hành, lại là người vô lo vô nghĩ nên cảm thấy lý do này hơi khó hiểu.

– Hẳn là hắn không biết thuốc đó sẽ khiến người ta mất mạng. – Tạ Dung nhìn Lữ Trực. – Lúc đó Tiêu Khoan đã nói với anh thế nào? Nói rằng thuốc này chỉ khiến Sử Đoan co giật tay chân? Hay là bị tiêu chảy? Hay là đau đầu một ngày?

Nghe Tạ Dung nói “hẳn là hắn không biết thuốc đó sẽ khiến người ta mất mạng”, nét mặt Lữ Trực cuối cùng cũng lộ ra vẻ hối hận, hắn mở miệng nói:

– Tôi thật sự không biết hắn sẽ chết…

Lữ Trực hỏi Tạ Dung:

– Quý nhân, Sử Đoan thực sự là do uống thuốc đó mà trúng độc chết sao?

Tạ Dung gật đầu:

– Phải.

Lữ Trực nhắm mắt rồi cúi đầu xuống.

– Sử Đoan là người ph*ng đ*ng, không thích gò bó, miệng lưỡi lại cay nghiệt, chẳng ai thích hắn cả. Nhất là lúc sắp đến ngày thi, chỗ của hắn vẫn đàn ca hát xướng suốt ngày, tôi với Tiêu Khoan bị hắn làm phiền không chịu nổi.

– Khoảng bảy tám ngày trước, chúng tôi cùng nhau từ chỗ Phan Biệt giá trở về. Sử Đoan nói sắp thi rồi, muốn rủ mọi người đi uống một chầu. Dù sao cũng chưa đến mức trở mặt với nhau, nên chúng tôi đều đồng ý. Vừa hay có hầu gái của kỹ nữ đến tìm, thế là hắn đi về trước.

– Thấy cái vẻ ngông cuồng của hắn, tôi gai mắt quá nên nói kháy mấy câu. Trường Hành là quân tử, chẳng nói gì cả. Còn Tiêu Khoan lại bảo, “Phải chi thồn cho hắn ít thuốc trị thấp khớp của tôi, để tay chân hắn cũng tê bại, cả người co giật vài hôm cho bớt láo đi!”

– Tiêu Khoan bị bệnh thấp khớp, luôn mang theo một loại thuốc tên là “Hạt mã tiền”. Tôi từng thấy gã uống rồi. Loại thuốc này tuy có thể làm dịu triệu chứng thấp khớp, nhưng vừa mới uống vào thực sự rất khó chịu. Nào là co giật, chóng mặt, đứng không vững, phải mất cả buổi mới hoàn toàn bình phục được.

– Tôi cứ tưởng gã nói chơi cho qua chuyện thôi, nào ngờ tối hôm kia, lúc bọn tôi cùng nhau uống rượu gã lại mang thuốc tới thật. Sau ba tuần rượu, Sử Đoan đi vệ sinh. Tiêu Khoan cũng đi theo Sử Đoan, để lại một gói thuốc bột trên bàn, còn nói: “Bỏ hết vào rượu là được”.

– Bởi vì hôm trước Sử Đoan ở trong sân gảy đàn tỳ bà suốt cả đêm, tôi bực bội hết sức, bèn cầm gói thuốc đó đổ vào chén rượu của Sử Đoan. Trường Hành thấy vậy thì bảo là “Làm bậy!” nhưng không hề ngăn cản. Đến khi Sử Đoan trở về, cả bọn lại uống thêm vài chén nữa. Tiêu Khoan bắt đầu ngà ngà say. Sử Đoan trêu gã là “thuyền nhỏ không chở nổi hàng nặng” còn đòi uống tiếp, Trường Hành bèn khuyên giải. Sau đó, tiệc rượu tàn, cả bọn cùng nhau trở về lữ quán.

Tạ Dung gật đầu:

– Lúc bọn ta đến thẩm vấn, hẳn là anh đang hỏi Tiêu Khoan việc này?

– Vâng, Tiêu Khoan không nhận, nói mình đã uống thuốc ấy nhiều lần mà có sao đâu, không phải là do thuốc đó. Gã còn nói rằng e là Sử Đoan uống rượu, sau đó về nhà nổi hứng uống thêm thuốc gì khác, thậm chí còn mây mưa với ai đó nên mới ra nông nổi như vậy. Mà Sử Đoan chết trông cũng bôi bác, tuy tôi có hơi nghi ngờ nhưng vẫn tin là thật.

– Sau đó nghe nói các quý nhân nghi ngờ Sử Đoan mắc bệnh tim, tôi càng tin lời của Tiêu Khoan hơn, nghĩ rằng mọi chuyện chỉ là trùng hợp mà thôi. Mãi cho đến khi nghe quý nhân nói Trường Hành bị đầu độc, tôi mới lại nghi ngờ Tiêu Khoan. Trường Hành có xuất thân tốt, chưa từng thất lễ với ai bao giờ. Tôi thật sự không hiểu tại sao gã lại đầu độc Trường Hành. Trừ phi là để diệt khẩu! Gã biết người bỏ thuốc là tôi, bọn tôi đã là người chung thuyền, nhưng Trường Hành thì không phải.

– Không ngờ Tiêu Khoan lại độc ác, điên cuồng đến mức đó! – Lữ Trực nghiến răng. – Gã còn muốn hại chết cả tôi nữa.

Lữ Trực chợt thấy nghi hoặc, không rõ mấy người Tạ Dung làm sao mà biết được chuyện này, còn chờ sẵn ở đây. Lẽ nào…

Tạ Dung tạm thời đảm nhận việc của Thư lại, đích thân viết bản khẩu cung rồi bảo sai nha cầm qua cho Lữ Trực ký tên điểm chỉ.

Cuối cùng, Tạ Dung cũng giải đáp thắc mắc cho hắn:

– Ngô Thanh Du là tự tử, còn lá thư hẹn anh đến uống rượu là do ta viết.

Lữ Trực vừa kinh ngạc, vừa nghi ngờ nhìn Tạ Dung rồi thở dài một hơi, gật gật đầu.

Tạ Dung, Thôi Dập, Chu Kỳ bước ra khỏi sân nhà của Tiêu Khoan, mấy sai nha của Đại Lý Tự cầm theo văn thư cho phép đi đêm và áp giải Lữ Trực về Đại Lý Tự, chờ đến mai mới chính thức thăng đường thẩm vấn.

Thôi Dập hỏi:

– Bọn họ thật sự chỉ định làm Sử Đoan co giật tay chân, vật vã nửa ngày thôi sao?

Chu Kỳ cười nhạt, nói:

– Sao bọn họ không nghĩ đến kỳ thi của Bộ Lễ được? Còn về phần của Tiêu Khoan, e là gã còn nghĩ nhiều hơn thế ấy chứ.

Thôi Dập lắc đầu, chào Tạ Dung và Chu Kỳ một tiếng rồi trở về nhà mình ở phường Vĩnh Hưng.

Tạ Dung và Chu Kỳ thong thả cưỡi ngựa đi về phía Nam. Vụ án hôm nay quả là khiến người ta cảm thán. Gió đêm se lạnh thổi vào mặt, cả hai đều đã thấm mệt, chỉ lặng thinh chứ chẳng trò chuyện gì.

Gõ cửa mở cổng phường, hai người đi vào phường Khai Hoá rồi rẽ vào con ngõ về nhà mình.

– Ục, ục… – Bụng Chu Kỳ sôi ùng ục một tràng.

Hôm nay ban đầu là đưa Tiêu Khoan đi, tiếp đó là mai phục bắt Lữ Trực, đến giờ này cũng đã qua cơn đói, Chu Kỳ vốn không thấy đói bụng nữa rồi. Nàng thầm thắc mắc: “Sao vừa tới trước cửa nhà Tạ Thiếu khanh thì bụng mình lại sôi lên thế nhỉ? Chẳng lẽ bụng mình cũng biết chọn chỗ để đói à?”

Tạ Dung nhìn nàng, thoáng do dự rồi lên tiếng mời:

– Cô cứ ở đây ăn tạm gì đó đi.

Chu Kỳ tức khắc hớn hở ra mặt.

Tạ Dung đẩy cửa ra, Chu Kỳ theo chàng tiến vào. Hai người buộc ngựa rồi đi vào nhà trong. La Khải mắt nhắm mắt mở ra đón:

– Lang quân, Chu Tướng quân, hai người đã về rồi à.

Tạ Dung ôn tồn nói:

– Đi ngủ đi.

La Khải gật đầu, ngáp dài một cái rồi đi mất. Tạ Dung và Chu Kỳ đi thẳng vào nhà bếp ở chái Đông. Chu Kỳ cũng không kén chọn, nói:

– Xem có cơm thừa không? Ăn tạm lót dạ là được rồi.

Tạ Dung đi tới múc nước đổ vào chậu rồi lấy đậu tắm rửa tay.

– Cô cũng rửa tay trước đi, lát nữa còn ăn cơm.

Chu Kỳ cười hì hì, ngoan ngoãn rửa tay rồi ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ chờ đợi.

Trên bếp lò có nước nóng bác Đường đã nấu sẵn, Tạ Dung khều củi để lửa cháy to hơn, đổ nước nóng vào trong nồi nhỏ rồi đậy vung lại chờ nước sôi. Sau đó, chàng lấy một cây lạp xưởng trong chiếc giỏ treo trên xà nhà xuống, rửa sạch rồi thái hạt lựu. Chàng còn cắt một ít ngồng tỏi bác Đường trồng trong chậu, rửa sạch, cắt nhỏ.

Thái thịt và ngồng tỏi xong xuôi thì nước cũng vừa sôi, Tạ Dung tìm mì sợi mà bác Đường tự tay cán, phơi khô và cắt nhỏ ra, cho vào nồi nước nấu lên, đập hai quả trứng vào nồi làm trứng chần, cầm đũa khuấy nhẹ mấy vòng. Một chốc sau, mì đã chín, Tạ Dung múc cả mì lẫn nước dùng ra hai cái bát lớn. Chàng lại bắc một chiếc nồi khác lên bếp, cho thêm chút dầu, giơ tay lên trên thử độ nóng rồi bỏ lạp xưởng vào rán sơ một lượt.

– Cho ít tương thù du vào nhé? – Tạ Dung hỏi.

Chu Kỳ đang ngửi mùi thơm nuốt nước bọt, vội nói:

– Được, được.

Tạ Dung liếc nhìn nàng một cái, cuối cùng múc tương thù du ít hơn hẳn bình thường, chỉ cho vào một tí để dậy mùi mà thôi. Sau đó, chàng thả thêm ngồng tỏi cắt nhỏ vào, tức thì mùi hương tỏa ra thơm phức.

Đây là món xào lăn nên đảo sơ mấy lần là xong. Tạ Dung múc lạp xưởng xào ngồng tỏi lên trên bát mì.

Chu Kỳ cực kỳ có ý tứ, bưng hai bát mì đến chiếc bàn con bên cạnh bệ bếp, còn sắp ghế xếp nhỏ và đũa cho Tạ Dung nữa.

Tạ Dung rửa tay rồi đi tới ngồi xuống:

– Ăn thôi.

Thế là hai người ngồi đối diện nhau bên bệ bếp, cách nhau một chiếc bàn con bắt đầu ăn mì sợi. Bát mì toả hơi nóng nghi ngút, ánh nến trên bàn khe khẽ lung lay. Khung cảnh này khiến đêm lạnh đầu xuân cũng trở nên ấm áp hẳn lên.

– Hết chương 55 –

 


Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.